Trong Bản tin tháng 08 năm 2017, chúng tôi xin giới thiệu đến quý khách hàng các chính sách mới liên quan đến thuế, lao động và các quy định khác có hiệu lực thi hành trong năm 2017 bao gồm:
Thuế – Hóa đơn – Chứng từ
- Công văn số 3899/TCT-TNCN ngày 29/08/2017 của Tổng cục Thuế về việc hướng dẫn quyết toán lại thuế TNCN;
- Công văn số 3876/TCT-KK ngày 28/08/2017 của Tổng cục Thuế về việc kê khai thuế TTĐB đối với hoạt động nhận gia công thuốc lá điếu;
- Công văn số 3867/TCT-TNCN ngày 25/08/2017 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế TNCN;
- Công văn số 3860/TCT-KK ngày 25/08/2017 của Tổng cục Thuế về vướng mắc khi thực hiện công văn số 716/TCT-KK ngày 03/03/2017 của Tổng cục Thuế;
- Công văn số 3841/TCT-CS ngày 24/08/2017 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế;
- Công văn số 3840/TCT-CS ngày 24/08/2017 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế;
- Công văn số 3808/TCT-KK ngày 23/08/2017 của Tổng cục Thuế về việc hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư;
- Công văn số 3798/TCT-CS ngày 22/08/2017 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế GTGT;
- Công văn số 3747/TCT-HTQT ngày 18/08/2017 của Tổng cục Thuế về thuế TNCN;
- Công văn số 3719/TCT-CS ngày 17/08/2017 của Tổng cục Thuế về việc hoàn thuế GTGT;
- Công văn số 3693/TCT-TNCN ngày 16/08/2017 của Tổng cục Thuế về thuế TNCN đối với xác định tình trạng cư trú của người nước ngoài;
- Công văn số 3589/TCT-KK ngày 11/08/2017 của Tổng cục Thuế về việc hoàn thuế GTGT.
Lao động, tiền lương
- Thông tư số 18/2017/TT-BLĐTBXHngày 15/08/2017 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng;
- Thông tư số 19/2017/TT-BLĐTBXHngày 03/07/2017 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động;
- Thông tư số 23/2017/TT-BLĐTBXH ngày 15/08/2017 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc hướng dẫn thực hiện cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam qua mạng điện tử;
- Công văn 3340/BHXH-STngày 08/08/2017 của Bảo hiểm Xã hội hướng dẫn về việc cấp sổ BHXH và thẻ BHYT theo mã số BHXH.
Quy định khác
- Luật số 04/2017/QH14 ngày 12/6/2017 về việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Nghị định số 94/2017/NĐ-CP ngày 10/08/2017 của Chính phủ về hàng hoá, dịch vụ, địa bàn thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại;
- Quyết định số 09/2017/QĐ-KTNN ngày 15/8/2017 của Kiểm toán Nhà nước về việc ban hành quy chế ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán.
Công văn số 3899/TCT-TNCN ngày 29/08/2017 của Tổng cục Thuế về việc hướng dẫn quyết toán lại thuế TNCN
Các khoản trợ cấp thâm niên đối với nhà giáo, phụ cấp ưu đãi đối với giảng viên đang trực tiếp giảng dạy được hưởng theo mức quy định của cơ quan Nhà nước thì không tính vào thu nhập chịu thuế.
Các khoản phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo, phụ cấp ưu đãi đối với giảng viên đang trực tiếp giảng dạy nhận được cao hơn mức quy định của cơ quan Nhà nước thì phần vượt phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công.
Trường hợp quyết toán thuế TNCN năm 2016 Học viện chưa tính trừ các khoản thu nhập từ trợ cấp thâm niên đối với nhà giáo, phụ cấp ưu đãi đối với giảng viên đang trực tiếp giảng dạy theo chế độ quy định thì Học viện kê khai bổ sung vào hồ sơ quyết toán thuế TNCN năm 2016 cho các giảng viên.
Công văn số 3876/TCT-KK ngày 28/08/2017 của Tổng cục Thuế về việc kê khai thuế TTĐB đối với hoạt động nhận gia công thuốc lá điếu
Căn cứ quy định nêu trên và Hợp đồng gia công sản xuất thuốc lá số 02/HĐGC/B/17 giữa Công ty TNHH MTV Thuốc lá Đồng Tháp và Công ty TNHH MTV Thuốc lá Sài Gòn. Công ty TNHH MTV Thuốc lá Đồng Tháp là đơn vị nhận gia công thuốc lá thành phẩm và chịu trách nhiệm nộp thuế tiêu thụ đặc biệt (nộp thay và được bên giao gia công hoàn trả số thuế tiêu thụ đặc biệt) do đó, Công ty TNHH MTV Thuốc lá Đồng Tháp phải thực hiện kê khai, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt với cơ quan thuế quản lý trực tiếp.
Về việc nâng cấp ứng dụng bổ sung thêm tên hàng hóa “Thuốc lá điếu gia công”: do quy định tại Luật thuế TTĐB không có tên hàng hóa này và việc xác định tính thuế chỉ khi sản phẩm được bán ra do đó khi kê khai người nộp thuế phải chọn danh mục hàng hóa là thuốc lá điếu và tính thuế theo khoản 2 Điều 2 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/08/2016 của Bộ Tài chính.
Công văn số 3867/TCT-TNCN ngày 25/08/2017 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế TNCN
Trường hợp các khoản chi phí làm thẻ tạm trú, visa cho người lao động nước ngoài do công ty chi trả thay cho người lao động thì các khoản này tính vào thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công và kê khai nộp thuế TNCN theo quy định.
Trường hợp công ty thuê người lao động là người nước ngoài thì công ty có trách nhiệm đề nghị cấp giấy phép lao động nên chi phí làm giấy phép lao động do công ty chi trả không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
Công văn số 3860/TCT-KK ngày 25/08/2017 của Tổng cục Thuế về vướng mắc khi thực hiện công văn số 716/TCT-KK ngày 03/03/2017 của Tổng cục Thuế
+ Trường hợp qua kết quả kiểm tra xác định Chi nhánh Lâm Đồng là cơ sở sản xuất trực thuộc, không trực tiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu, không thực hiện hạch toán kế toán thì: Công ty TNHH Mercafe Việt Nam thực hiện khai thuế GTGT tại trụ sở chính và nộp thuế cho địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc. Nếu Công ty không phát sinh số thuế phải nộp tại trụ sở chính thì không phải nộp thuế cho địa phương nơi có cơ sở sản xuất.
Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Công ty thực hiện khai thuế TNDN tập trung tại trụ sở chính cả phần phát sinh tại trụ sở chính và tại Chi nhánh Lâm Đồng. Số thuế TNDN tính nộp ở Lâm Đồng được xác định bằng số thuế TNDN phải nộp trong kỳ nhân (x) tỷ lệ chi phí của Chi nhánh Lâm Đồng với tổng chi phí của Công ty theo hướng dẫn tại khoản 7 Điều 11 Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/2/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về khai thuế TNDN.
+ Trường hợp qua kết quả kiểm tra xác định Chi nhánh Lâm Đồng là đơn vị trực thuộc Công ty TNHH Mercafe Việt Nam, không trực tiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu, không phát sinh hoạt động sản xuất mà chỉ thu mua cafe hạt phục vụ cho sản xuất tại nhà máy Đồng Nai và sử dụng Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ thì thực hiện khai thuế tập trung tại trụ sở chính ở Đồng Nai.
Trên cơ sở xác định loại hình hoạt động, sản xuất, kinh doanh của Chi nhánh Công ty TNHH Mercafe Việt Nam tại Lâm Đồng, đề nghị Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng xác định lại nghĩa vụ kê khai, nộp thuế của Chi nhánh Lâm Đồng. Trường hợp Chi nhánh Lâm Đồng nộp thiếu tiền thuế thì yêu cầu nộp bổ sung vào ngân sách nhà nước, trường hợp nộp thừa thì đề nghị Cục Thuế Lâm Đồng xử lý số nộp thừa theo quy định tại Điều 47 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 13 Điều 1 Luật số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế).
Công văn số 3841/TCT-CS ngày 24/08/2017 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế
Cơ sở lưu trú có trách nhiệm khai, nộp thuế thay cho Nhà thầu nước ngoài (NTNN) theo các quy định nêu trên. Trong quá trình thực hiện, yêu cầu các Cục Thuế rà soát, hỗ trợ các Cơ sở lưu trú trong việc xác định nghĩa vụ thuế và kê khai, nộp thuế theo quy định, cụ thể:
– Trường hợp khách hàng thuê phòng trả tiền trực tiếp cho Cơ sở lưu trú ở Việt Nam, sau đó Cơ sở lưu trú trả tiền hoa hồng môi giới đặt phòng cho NTNN thì Cơ sở lưu trú có trách nhiệm khai, nộp thuế thay cho NTNN.
– Trường hợp khách hàng thuê phòng trả tiền trực tiếp cho NTNN, sau đó NTNN chuyển tiền phòng cho Cơ sở lưu trú và giữ lại tiền hoa hồng được hưởng thì:
+ Đối với trường hợp Cơ sở lưu trú và NTNN đã ký hợp đồng thì đề nghị Cục Thuế yêu cầu Cơ sở lưu trú có trách nhiệm thông báo cho NTNN biết nghĩa vụ thuế và khai, nộp thuế nhà thầu thay NTNN.
+ Đối với trường hợp Cơ sở lưu trú và NTNN chưa ký hợp đồng thì đề nghị Cục Thuế lưu ý Cơ sở lưu trú phải xác định rõ nghĩa vụ thuế của NTNN khi ký hợp đồng và Cơ sở lưu trú có trách nhiệm khai, nộp thuế nhà thầu thay cho NTNN.
Công văn số 3840/TCT-CS ngày 24/08/2017 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế
Trường hợp Công ty có sử dụng dịch vụ được thực hiện tại Việt Nam của một công ty nước ngoài không có tư cách pháp nhân tại Việt Nam, Công ty đã nộp thuế GTGT và thuế TNDN thay cho nhà thầu nước ngoài, nếu các khoản chi phí dịch vụ này không được tính trừ khi xác định thu nhập chịu thuế do không đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1, Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC nêu trên thì Công ty không được kê khai khấu trừ thuế GTGT đã nộp thay cho nhà thầu nước ngoài.
Công văn số 3808/TCT-KK ngày 23/08/2017 của Tổng cục Thuế về việc hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư
Trường hợp Công ty TNHH lương thực Hiệp Tài (có trụ sở tại tỉnh Bến Tre) có dự án đầu tư Nhà máy sấy và xây xát lương thực tại tỉnh Trà Vinh, dự án này là dự án giai đoạn sau của dự án đã thực hiện và là một phần cấu thành của hoạt động Chi nhánh Công ty đang quản lý và đã được Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Trà Vinh xác định đây là dự án đầu tư mới của Công ty theo công văn số 1126/SKHĐT-TTXT ngày 28/6/2017 nêu trên; dự án đầu tư của Công ty nếu đáp ứng được các điều kiện của pháp luật về đầu tư và Công ty có văn bản ủy quyền cho Chi nhánh Công ty (có trụ sở tại tỉnh Trà Vinh) trực tiếp quản lý dự án đầu tư này và việc trực tiếp quản lý dự án của Chi nhánh tại tỉnh Trà Vinh phù hợp với quy định của pháp luật về doanh nghiệp; Chi nhánh Công ty có con dấu theo quy định của pháp luật, lưu giữ sổ sách chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế thì Chi nhánh Công ty lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư đồng thời phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư để bù trừ với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện; sau khi bù trừ nếu đáp ứng được điều kiện về kê khai khấu trừ, hoàn thuế thì Chi nhánh Công ty liên hệ với Cục Thuế tỉnh Trà Vinh để được giải quyết theo quy định.
Công văn số 3798/TCT-CS ngày 22/08/2017 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế GTGT
Trường hợp, trước 01/07/2016, Công ty TNHH MTV đá trắng Bảo Lai được cấp Giấy phép đầu tư xây dựng Dự án sản xuất các sản phẩm từ tài nguyên, khoáng sản như đá Chipform, bột siêu mịn, hạt nhựa, đá block nhân tạo, xẻ đá nhân tạo.
– Các sản phẩm của Dự án đầu tư được được xác định là tài nguyên, khoáng sản chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc đã chế biến thành sản phẩm khác nhưng có tổng giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng chi phí năng lượng trên 51% giá thành sản xuất sản phẩm: (i) trường hợp, doanh nghiệp xuất khẩu các sản phẩm này thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, doanh nghiệp không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT; (ii) trường hợp, doanh nghiệp bán trong nước các sản phẩm này thì thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, doanh nghiệp được khấu trừ thuế GTGT đầu vào nhưng không được hoàn thuế GTGT mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo.
– Các sản phẩm của Dự án đầu tư được xác định là tài nguyên, khoáng sản đã chế biến thành sản phẩm khác có tổng giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng chi phí năng lượng dưới 51% giá thành sản xuất sản phẩm thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, doanh nghiệp được kê khai, khấu trừ và hoàn thuế GTGT.
Công ty TNHH MTV đá trắng Bảo Lai phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ theo quy định. Trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế GTGT đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ % giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra.
Công văn số 3747/TCT-HTQT ngày 18/08/2017 của Tổng cục Thuế về thuế TNCN
- Theo quy định tại Điều 18 Hiệp định thuế Việt Nam – Nhật Bản (Hiệp định):
“Thể theo các quy định tại khoản 2, Điều 19, tiền lương hưu và các khoản tiền công tương tự khác được trả cho một đối tượng cư trú của một Nước ký kết do các công việc đã làm trước đây sẽ chỉ bị đánh thuế ở Nước ký kết đó”
Như vậy, trường hợp ông Hatakeyama là đối tượng cư trú của Việt Nam (Nước ký kết) thì tiền lương hưu do công việc làm trước đây của ông phải chịu thuế TNCN tại Việt Nam (Nước ký kết đó).
- Việc thực hiện nghĩa vụ thuế TNCN tại Việt Nam được căn cứ theo các quy định của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và Luật thuế TNCN và các văn bản hướng dẫn thi hành của các Pháp lệnh và Luật, không căn cứ vào các quy định của Luật thuế Nhật Bản. Do đó, việc thực hiện nghĩa vụ thuế của ông Akira Hatakeyama theo quy định của Pháp lệnh và Luật thuế TNCN trong các giai đoạn đã được hướng dẫn cụ thể tại công văn số4853/TCT-HTQTcủa Tổng cục thuế nêu trên.
Quy định tại nội luật:
(1) Giai đoạn từ 2008 đến 31/12/2008:
– Căn cứ hướng dẫn tại Khoản 1, Mục V và Điểm 2.1.1 Khoản 2 Mục I, Thông tư 81/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính (có hiệu lực từ ngày 13/9/2004), ông Akira không thuộc đối tượng được miễn thuế TNCN tại Việt Nam đối với các khoản tiền lương hưu nhận được bao gồm tiền lương hưu nhận được từ quỹ bảo hiểm xã hội và quỹ hưu trí tự nguyện.
(2) Giai đoạn từ 01/01/2009 đến 30/6/2013:
– Mục III, Phần A, Thông tư số 84/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính (có hiệu lực từ ngày 01/01/2009) hướng dẫn:
“III. CÁC KHOẢN THU NHẬP ĐƯỢC MIỄN THUẾ
Căn cứ quy định tại Điều 4 của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Điều 4 của Nghị định số 100/2008/NĐ-CP, các khoản thu nhập được miễn thuế và hồ sơ làm căn cứ xác định thu nhập được miễn thuế như sau:
……
- Thu nhập từ tiền lương hưu do bảo hiểm xã hội trả theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.
Người lao động có tham gia bảo hiểm xã hội được nghỉ hưu theo chế độ quy định thì thu nhập từ tiền lương hưu do bảo hiểm xã hội Việt Nam trả được miễn thuế.
Cá nhân sinh sống tại Việt Nam được miễn thuế đối với tiền lương hưu do các tổ chức nước ngoài thành lập theo pháp luật bảo hiểm xã hội của nước đó.”
Theo thông tin do Cơ quan thuế Nhật Bản cung cấp, Quỹ lương hưu do Công ty TNHH Giấy Oji trả cho Ông Akira thông qua ngân hàng tín thác Sumitomo Trust & Banking Co. Ltd là Quỹ lương hưu tự nguyện do Công ty TNHH Giấy Oji quản lý, không được thành lập theo Luật lương hưu công của Nhật Bản, nên lương hưu Ông Akira nhận được từ Quỹ lương hưu của Công ty TNHH Giấy Oji không được miễn thuế TNCN tại Việt Nam.
Các khoản lương hưu nhận được theo Luật Lương hưu công của Nhật: Luật Lương hưu quốc gia và Luật Bảo hiểm lương hưu người làm công (National Pension Act, Employee’s Pension Insurance Act) thuộc đối tượng miễn thuế TNCN tại Việt Nam.
(3) Giai đoạn từ 01/7/2013 đến nay:
Khoản 10 Điều 4 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ (có hiệu lực từ 01/7/2013) quy định:
“Điều 4. Thu nhập được miễn thuế
…………..
- Tiền lương hưu do Quỹ bảo hiểm xã hội chi trả theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, tiền lương hưu nhận được hàng thángtừ quỹ hưu trí tự nguyện. Cá nhân sinh sống, làm việctại Việt Nam, được miễn thuế đối với tiền lương hưu do nước ngoài trả”.
Do đó, tiền lương hưu Ông Akira nhận được từ ngày 01/7/2013 đến nay được miễn thuế TNCN tại Việt Nam.
Công văn số 3719/TCT-CS ngày 17/08/2017 của Tổng cục Thuế về việc hoàn thuế GTGT
Trường hợp doanh nghiệp đã hạch toán riêng số thuế GTGT đầu vào sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu của tháng 12/2016, tháng 01/2017 và tháng 02/2017 thì thống nhất với đề xuất của Cục Thuế tỉnh Hưng Yên: số thuế GTGT đầu vào sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu lũy kế từ tháng 12/2016 đến tháng 02/2017 nếu sau khi bù trừ với số thuế GTGT phải nộp của hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trong nước từ tháng 12/2016 đến tháng 02/2017 còn từ 300 triệu đồng trở lên thì doanh nghiệp được hoàn thuế GTGT cho hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu. Số thuế GTGT được hoàn của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu không vượt quá doanh thu của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nhân (x) với 10%.
Công văn số 3693/TCT-TNCN ngày 16/08/2017 của Tổng cục Thuế về thuế TNCN đối với xác định tình trạng cư trú của người nước ngoài
– Ông Tadahiko Sakurai người Nhật Bản vào Việt Nam làm việc từ năm 2011 đến ngày 15/01/2014 về nước, các năm 2011, 2012, 2013 ông Tadahiko Sakurai đủ điều kiện là cá nhân cư trú tại Việt Nam đã kê khai và quyết toán thuế TNCN theo quy định tại Việt Nam. Năm 2014, ông Tadahiko Sakurai về nước ngày 15/01/2014, tổ chức trả thu nhập căn cứ vào thời gian làm việc tại Việt Nam của ông Tadahiko Sakurai ghi trên Hợp đồng hoặc văn bản cử sang làm việc tại Việt Nam để tạm khấu trừ thuế theo hướng dẫn tại tiết b.3, điểm b, khoản 1, Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTCngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính. Nếu năm 2014, ông Tadahiko Sakurai về nước ngày 15/01/2014, không quay trở lại Việt Nam thêm ngày nào và không chứng minh được là cá nhân cư trú tại nước nào thì năm 2014 ông Tadahiko Sakurai được xác định là cá nhân cư trú tại Việt Nam, tổ chức trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần cho ông Tadahiko Sakurai, nếu ông Tadahiko Sakurai chứng minh được là cá nhân cư trú tại Nhật Bản thì năm 2014 ông Tadahiko Sakurai được xác định là cá nhân không cư trú tại Việt Nam, tổ chức trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo mức 20% trên thu nhập trả cho ông Tadahiko Sakurai,
– Ngày 17/10/2016 ông Tadahiko Sakurai trở lại Việt Nam làm việc và được xác định là cá nhân cư trú tại Việt Nam, tổ chức trả thu nhập căn cứ vào thời gian làm việc tại Việt Nam của ông Tadahiko Sakurai ghi trên Hợp đồng hoặc văn bản cử sang làm việc tại Việt Nam để tạm khấu trừ thuế theo hướng dẫn tại tiết b.3, điểm b, khoản 1, Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính. Cục Thuế tỉnh Đồng Nai căn cứ vào thời gian làm việc tại Việt Nam của người nộp thuế ghi trên Hợp đồng, văn bản cử người nộp thuế sang làm việc tại Việt Nam và căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của người nộp thuế khi đến và khi rời Việt Nam để xác định tình trạng cư trú của người nộp thuế làm cơ sở xác định nghĩa vụ thuế TNCN của người nộp thuế.
Theo dữ liệu Cục Thuế tỉnh Đồng Nai cung cấp, trường hợp ngày 17/10/2016 ông Tadahiko Sakurai vào Việt Nam làm việc, đến ngày 28/4/2017 ông Tadahiko Sakurai trở về nước và không trở lại Việt Nam. Từ ngày 17/10/2016 đến ngày 28/4/2017 ông Tadahiko Sakurai ở Việt Nam 174 ngày. Như vậy, tính trong năm dương lịch (năm 2016) và trong cả 12 tháng liên tục ông Tadahiko Sakurai không đủ điều kiện là cá nhân cư trú tại Việt Nam, tổ chức trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo mức 20% trên thu nhập trả cho ông Tadahiko Sakurai.
Công văn số 3589/TCT-KK ngày 11/08/2017 của Tổng cục Thuế về việc hoàn thuế GTGT
Trường hợp Công ty TNHH xây dựng Samho (trụ sở chính tại Hà Nội) có hoạt động xây dựng và lắp đặt, hoàn thiện các hạng mục xây dựng ngoại tỉnh thuộc đối tượng phải kê khai và nộp thuế vãng lai ngoại tỉnh theo quy định (không phải là nộp thừa) thì Công ty TNHH xây dựng Samho tổng hợp số tiền thuế GTGT vãng lai ngoại tỉnh đã nộp kê khai trên tờ khai mẫu 01/GTGT để xác định số thuế GTGT phải nộp trong kỳ tại trụ sở chính;
Trường hợp Công ty TNHH xây dựng Samho có số thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết (bao gồm cả số thuế GTGT đã nộp vãng lai ngoại tỉnh) lũy kế ít nhất 12 tháng hoặc 4 quý tính từ tháng/quý đầu tiên phát sinh số thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết và đề nghị hoàn thuế của Công ty kỳ hoàn thuế từ tháng 03/2015 đến tháng 05/2016 (trước ngày hiệu lực của Thông tư 130/2016/TT-BTC hướng dẫn Luật số 106/2016/QH136, Nghị định 100/2016/NĐ-CP) thì Công ty TNHH xây dựng Samho được xem xét hoàn thuế theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 18 Thông tư số 219/2013/TT-BTC nếu đáp ứng được các điều kiện về kê khai, khấu trừ và hoàn thuế theo quy định.
Hướng dẫn điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH từ ngày 01/7/2017
Thông tư số 18/2017/TT-BLĐTBXH ngày 30/06/2017 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng;
Theo đó, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng từ tháng 7/2017 = Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp tháng 6/2017 x 1,0744
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2017.
Huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động
Thông tư số 19/2017/TT-BLĐTBXH ngày 03/07/2017 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động;
Theo đó, quy định về nội dung huấn luyện, bồi dưỡng cho người huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động tại Tổ chức huấn luyện đủ điều kiện hoạt động hoặc doanh nghiệp đủ điều kiện tự huấn luyện như sau:
– Huấn luyện nghiệp vụ gồm: chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; phương pháp phân tích, đánh giá và kiểm soát rủi ro, xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp; nghiệp vụ công tác tự kiểm tra, điều tra tai nạn lao động…
– Huấn luyện kỹ năng: kỹ năng soạn bài giảng; thuyết trình; tư vấn, hướng dẫn, tuyên truyền về an toàn, vệ sinh lao động; kỹ năng sử dụng các phương tiện hỗ trợ huấn luyện.
– Huấn luyện các chuyên đề bắt buộc gồm: an toàn, vệ sinh lao động trong sản xuất, vận hành, sửa chữa thiết bị điện; thiết bị yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; hóa chất; xây dựng; khai thác khoáng sản.
– Các nội dung huấn luyện chuyên sâu khác phù hợp với năng lực người huấn luyện và do người huấn luyện đăng ký tham dự.
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2017.
Cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài qua mạng điện tử
Ngày 15/8/2017, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 23/2017/TT-BLĐTBXH về việc hướng dẫn thực hiện cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam qua mạng điện tử.
Theo đó, việc cấp, cấp lại giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài sẽ được thực hiện thông qua Cổng thông tin điện tử tại địa chỉ: http//dvc.vieclamvietnam.gov.vn. Người sử dụng lao động phải đăng ký tài khoản để đăng nhập vào Cổng thông tin điện tử.
Trước ít nhất 07 ngày làm việc, kể từ ngày người lao động nước ngoài dự kiến bắt đầu làm việc, người sử dụng lao động phải khai thông tin vào tờ khai và nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động qua cổng thông tin điện tử. Hồ sơ bao gồm: Tờ khai và giấy tờ kèm theo phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; nếu các giấy tờ kèm theo ở dạng chứng từ giấy thì người sử dụng lao động phải chuyển đổi sang chứng từ điện tử dạng pdf, doc, docx hoặc jpg.
Trong 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan cấp giấy phép trả lời kết quả qua thư điện tử cho người sử dụng lao động. Nếu hồ sơ chưa hợp lệ, cơ quan cấp giấy phép phải nêu rõ lý do.
Khi nhận được kết quả thông báo hồ sơ hợp lệ, người sử dụng lao động nộp trực tiếp hoặc qua bưu điện bản gốc hồ sơ đề nghị cấp giấy phép đến cơ quan cấp giấy phép lao động để kiểm tra, đối chiếu và lưu theo quy định. Trong tối đa 08 giờ làm việc, kể từ khi nhận được bản gốc hồ sơ, cơ quan cấp giấy phép sẽ trả kết quả cho người sử dụng lao động.
Thông tư này có hiệu lực từ ngày 02/10/2017.
Hướng dẫn mới về việc cấp sổ BHXH, thẻ BHYT
Ngày 08/8/2017, BHXH Việt Nam ban hành Công văn 3340/BHXH-ST hướng dẫn về việc cấp sổ BHXH và thẻ BHYT theo mã số BHXH. Theo đó:
– Thay thế cụm từ “Số sổ:” in trên bìa và tờ rời của sổ BHXH bằng cụm từ “Mã số:”.
Ví dụ: bìa và tờ rời sổ BHXH trước đây in “Số sổ: 0118000001”, nay được in là “Mã số: 0118000001”.
– Sổ BHXH được cấp mới, cấp lại theo mẫu mới từ ngày 01/8/2017.
– Sổ BHXH đã cấp mà chưa được đổi, cấp lại theo mẫu mới vẫn có giá trị sử dụng đến khi được đổi, cấp lại.
Ngoài ra, Công văn 3340/BHXH-ST cũng hướng dẫn về việc cấp thẻ BHYT theo mã số BHXH.
BHXH Việt Nam yêu cầu Giám đốc BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc TW thông tin tới các cơ sở KCB BHYT trên địa bàn, đơn vị quản lý người tham gia và các đơn vị liên quan để tổ chức thực hiện đúng nội dung trên.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ngày 12/6/2017, Quốc hội đã thông qua Luật số 04/2017/QH14 về việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo đó, hộ kinh doanh chuyển đổi sang doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp và phí cung cấp thông tin doanh nghiệp lần đầu; miễn lệ phí môn bài trong 03 năm đầu; miễn, giảm tiền sử dụng đất có thời hạn…
Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa được áp dụng có thời hạn mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thông thường áp dụng cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp siêu nhỏ được áp dụng các thủ tục hành chính thuế và chế độ kế toán đơn giản theo quy định của pháp luật về thuế, kế toán.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn có thể được hỗ trợ giá thuê mặt bằng tại các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp trên địa bàn. Thời gian hỗ trợ tối đa 05 năm, từ ngày ký hợp đồng thuê mặt bằng. Việc hỗ trợ này không áp dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa có vốn đầu tư nước ngoài, vốn Nhà nước. Về phát triển nguồn nhân lực, doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn, giảm chi phí tham gia các khóa đào tạo có sử dụng ngân sách Nhà nước về khởi sự kinh doanh và quản trị doanh nghiệp, đào tạo nghề cho lao động.
Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018.
20 loại hàng hóa, dịch vụ thực hiện độc quyền Nhà nước
Ngày 10/8/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 94/2017/NĐ-CP về hàng hoá, dịch vụ, địa bàn thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại, cụ thể như sau:
1) Hàng hóa, dịch vụ phục vụ mục đích, quốc phòng, an ninh;
(2) Sản xuất, mua, bán, xuất, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, vận chuyển quá cảnh vật liệu nổ công nghiệp;
(3) Sản xuất vàng miếng;
(4) Xuất, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng;
(5) Phát hành xổ số kiến thiết;
(6) Nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà (trừ trường hợp nhập khẩu để kinh doanh bán hàng miễn thuế);
(7) Quản lý, nhập khẩu, xuất khẩu, mua, bán, bảo quản, bảo vệ hàng hóa thuộc Danh mục Dự trữ quốc gia;
(8) In, đúc tiền;
(9) Phát hành tem bưu chính Việt Nam;
(10) Sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, mua, bán, vận chuyển, tàng trữ pháo hoa và các dịch vụ liên quan đến pháo hoa;
(11) Truyền tải, điều độ hệ thống điện quốc gia; xây dựng và vận hành thủy điện đa mục tiêu và điện hạt nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội;
(12) Dịch vụ công ích bảo đảm an toàn hàng hải -vận hành hệ thống đèn biển, vận hành hệ thống luồng hàng hải công cộng;
(13) Dịch vụ công ích thông tin duyên hải (quản lý, vận hành khai thác hệ thống đài thông tin duyên hải);
(14) Bảo đảm hoạt động bay (dịch vụ không lưu, dịch vụ thông báo tin tức hàng không, dịch vụ tìm kiếm, cứu nạn);
(15) Hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị do Nhà nước đầu tư -quản lý, khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt, không bao gồm bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt);
(16) Quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi, thủy nông liên tỉnh, liên huyện; (kè biển trong trường hợp giao kế hoạch);
(17) Cung ứng dịch vụ lâm nghiệp tại rừng đặc dụng (trừ khu rừng bảo vệ cảnh quan được Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế thuê để bảo vệ và phát triển rừng, kết hợp kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái – môi trường);
(18) Xuất bản (không bao gồm hoạt động in và phát hành) xuất bản phẩm;
(19) Quản lý, duy trì, khai thác mạng bưu chính công cộng;
(20) Cung ứng dịch vụ công ích trong hoạt động phát hành báo chí.
Chỉ thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại đối với các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu mà Nhà nước cần phải độc quyền liên quan đến quốc phòng, an ninh, đảm bảo lợi ích quốc gia hoặc các thành phần kinh tế khác không có nhu cầu và khả năng tham gia.
Cơ quan nhà nước có quyền thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại thông qua hình thức trực tiếp thực hiện hoặc chỉ định cho tổ chức, cá nhân thực hiện. Việc chỉ định phải do Thủ trưởng cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định bằng văn bản.
Bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền các cấp không được quy định hoạt động, hàng hóa, dịch vụ, địa bàn thực hiện hoạt động thương mại độc quyền nhà nước. Đối với hàng hóa, dịch vụ, địa bàn phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an.
Quy chế ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán
Ngày 15/8/2017, Kiểm toán Nhà nước đã ban hành Quyết định số 09/2017/QĐ-KTNN về việc ban hành quy chế ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán.
Theo đó, Kiểm toán Nhà nước được ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán đối với: Tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp có sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước; Đơn vị sự nghiệp công lập; Ban Quản lý dự án đầu tư có nguồn kinh từ ngân sách Nhà nước; Hội, liên hiệp hội, tổng hội và các tổ chức khác được ngân sách Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động; Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ…
Không ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán đối với: Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Cơ quan được giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách Nhà nước các cấp; Hội đồng nhân dân, UBND các cấp, cơ quan khác của địa phương; Đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân
Doanh nghiệp kiểm toán được xem xét, lựa chọn ủy thác hoặc thuê kiểm toán phải đáp ứng các điều kiện: Là doanh nghiệp kiểm toán đủ điều kiện hoạt động hợp pháp; Trong 03 năm trước liền kề không có sai phạm; Người quản lý, điều hành của doanh nghiệp kiểm toán không phải là thành viên, cổ đông sáng lập hoặc mua cổ phần, góp vốn vào đơn vị được kiểm toán; Người có trách nhiệm quản lý, điều hành của doanh nghiệp kiểm toán không có bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột là thành viên, cổ đông sáng lập hoặc mua cổ phần, góp vốn và có ảnh hưởng đáng kể đối với đơn vị được kiểm toán…
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 29/09/2017.

