Vui lòng chờ...

 

Bản tin pháp luật tháng 10/2017

Tháng Mười 30, 20170
https://avnaudit.vn/wp-content/uploads/2019/09/tuvan-fix-1280x854.jpg

Trong Bản tin tháng 10 năm 2017, chúng tôi xin giới thiệu đến quý khách hàng các chính sách mới liên quan đến thuế, lao động và các quy định khác có hiệu lực thi hành trong năm 2017 bao gồm:

Kế toán

  • Ngày 10/10/2017, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 107/2017/TT-BTC về việc hướng dẫn Chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp.

Thuế – Hóa đơn – Chứng từ

  • Công văn số 13091/BTC-TCT ngày 29/09/2017 của Bộ Tài chính về chính sách thuế GTGT đối với gạo;
  • Công văn số 5023/TCT-TNCN ngày 30/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc trả lời kiến nghị của Công ty CP Tập đoàn Thiên Long;
  • Công văn số 5018/TCT-CS ngày 30/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc chính sách thuế GTGT đối với dịch vụ sơ chế sản phẩm nông nghiệp;
  • Công văn số 5017/TCT-CS ngày 30/10/2017 của Tổng cục Thuế về thuế GTGT đối với hoạt động xây dựng cho doanh nghiệp chế xuất;
  • Công văn số 4975/TCT-KK ngày 27/10/2017 của Tổng cục Thuế về khai thuế đối với chi nhánh;
  • Công văn số 4964/TCT-TNCN ngày 26/10/2017 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế TNCN đối với khoản tiền học phí của con người lao động;
  • Công văn số 4936/TCT-TNCN ngày 25/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc xác định tình trạng cư trú của cá nhân;
  • Công văn số 4853/TCT-CS ngày 19/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc thuế GTGT tàu đánh bắt xa bờ;
  • Công văn số 4838/TCT-QLN ngày 19/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc nộp thuế khi xuất hoá đơn lẻ;
  • Công văn số 4807/TCT-KK ngày 17/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc đăng ký thông tin tài khoản ngân hàng;
  • Công văn số 70613/CT-TTHT ngày 31/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc xác định chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế TNDN đối với chi phí cử lao động đi công tác nước ngoài;
  • .
  • Công văn số 70589/CT-TTHT ngày 31/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về chính sách thuế TNCN đối với cá nhân làm việc cho dự án viện trợ sử dụng nguồn vốn ODA;
  • Công văn số 70588/CT-TTHT ngày 31/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc xác định hoạt động đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ nhân viên hàng không;
  • Công văn số 70587/CT-TTHT ngày 31/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc hướng dẫn lập hồ sơ đăng ký người phụ thuộc;
  • Công văn số 70536/CT-TTHT ngày 31/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về thuế GTGT vãng lai ngoại tỉnh của kho hàng;
  • Công văn số 70534/CT-TTHT ngày 31/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc khấu trừ thuế TNCN đối với hợp đồng học việc;
  • Công văn số 70145/CT-TTHT ngày 30/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc xác định các khoản thu nhập từ SX phần mềm là doanh thu chịu thuế TNDN;
  • Công văn số 70143/CT-TTHT ngày 30/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về điều kiện để được tính vào CP được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế đối với khoản các chi: bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng;
  • Công văn số 70142/CT-TTHT ngày 30/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc nghĩa vụ phải lập hóa đơn khi hoàn thành dịch vụ tiêu hủy hàng hóa;
  • Công văn số 70140/CT-TTHT ngày 30/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về các trường hợp được hoàn thuế GTGT;
  • Công văn số 70141/CT-TTHT ngày 30/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc xác định không tính vào thu nhập chịu thuế TNDN đối với thu nhập từ chênh lệch tỷ giá do thu hộ, chi hộ;
  • Công văn số 70138/CT-TTHT ngày 30/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc quy định các khoản chi có tính chất phúc lợi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN’
  • Công văn số 69017/CT-TTHT ngày 24/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc xác định không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN đối với khoản thu nhập của các cá nhân tham gia đề án cấp Quốc gia, thực hiện bằng nguồn NSNN;
  • Công văn số 4748/TCT-CS ngày 13/10/2017 của Tổng cục Thuế về thuế GTGT đối với sản phẩm tài nguyên xuất khẩu;
  • Công văn số 4740/TCT-CS ngày 13/10/2017 của Tổng cục Thuế về hoàn thuế GTGT;
  • Công văn số 4733/TCT-CS ngày 13/10/2017 của Tổng cục Thuế về mẫu 06/GTGT;
  • Công văn số 4657/TCT-KK ngày 11/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc hoàn thuế GTGT hàng xuất khẩu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng;
  • Công văn số 4702/TCT-CS ngày 12/10/2017 của Tổng cục Thuế về hóa đơn;
  • Công văn số 4705/TCT-CS ngày 12/10/2017 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế đối với hàng khuyến mãi;
  • Công văn số 4714/TCT-CS ngày 12/10/2017 của Tổng cục Thuế về thuế GTGT đối với tài nguyên xuất khẩu;.
  • Công văn số 4561/TCT-KK ngày 05/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc quản lý khai thuế đối với doanh nghiệp chế xuất;

Quy định khác

  • Ngày 29/9/2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT về việc quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai
  • Ngày 25/10/2017, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 115/2017/TT-BTC về việc hướng dẫn giám sát giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán.
  • Ngày 29/9/2017, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 14/2017/TTNHNN về việc quy định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng.

 

Chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp

Ngày 10/10/2017, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 107/2017/TT-BTC về việc hướng dẫn Chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp. Theo đó, các đơn vị hành chính, sự nghiệp đều phải sử dụng thống nhất mẫu chứng từ kế toán thuộc loại bắt buộc và không được sửa đổi biểu mẫu chứng từ này trong quá trình thực hiện. Các đơn vị được tự thiết kế mẫu chứng từ để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Đối với mẫu chứng từ in sẵn phải được bảo quản cẩn thận, không được để hư hỏng, mục nát. Séc, Biên lai thu tiền và giấy tờ có giá phải được quản lý như tiền. Đơn vị hành chính, sự nghiệp phải mở sổ kế toán để ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh liên quan đến đơn vị kế toán. Mỗi đơn vị kế toán chỉ sử dụng một hệ thống sổ kế toán cho một kỳ kế toán năm, bao gồm sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết. Ngoài ra, đơn vị có sử dụng ngân sách Nhà nước phải lập báo cáo quyết toán ngân sách đối với phần kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp. Trường hợp đơn vị hành chính, sự nghiệp có phát sinh các khoản thu, chi từ nguồn khác, nếu có quy định phải quyết toán như nguồn ngân sách Nhà nước cấp với cơ quan có thẩm quyền thì phải lập báo cáo quyết toán đối với các nguồn này.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 24/11/2017.

Công văn số 13091/BTC-TCT ngày 29/09/2017 của Bộ Tài chính về chính sách thuế GTGT đối với gạo

– Gạo của tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất bán ra và ở khâu nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, phù hợp với thực tế hầu hết nông dân không thực hiện hạch toán kế toán, lưu giữ sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ khi mua hàng hóa, dịch vụ không thể áp dụng kê khai, khấu trừ và tính nộp thuế GTGT đối với sản xuất gạo cũng như các hàng hóa nông lâm, thủy hải sản khác.

– Thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho sản xuất lúa gạo không được khấu trừ mà phải tính vào chi phí. Do vậy Luật thuế GTGT quy định các hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho sản xuất lúa gạo đều được quy định không chịu thuế GTGT (phân bón, giống, máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, dịch vụ tưới, tiêu nước, cày, bừa đất, nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp, dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp,…) hoặc áp dụng thuế suất thấp 5% (đào đắp nạo vét kênh, mương, ao hồ phục vụ sản xuất nông nghiệp; nuôi trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng; sơ chế, bảo quản sản phẩm nông nghiệp,…) đã khuyến khích sản xuất nông nghiệp, giảm giá thành sản xuất lúa gạo.

– Gạo bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT nhưng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Như vậy, trong khâu sản xuất xay xát, gạo không chịu thuế GTGT (không có thuế GTGT đối với gạo), doanh nghiệp sản xuất gạo không những không phải ứng vốn để trả thuế GTGT khi mua gạo mà còn không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT khi bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã (giảm thủ tục hành chính, chi phí trong kê khai, nộp thuế GTGT); và được khấu trừ thuế GTGT đầu vào của sản xuất, kinh doanh gạo làm hạ giá thành gạo tại các khâu thương mại trung gian, qua đó tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

– Gạo do doanh nghiệp sản xuất kê khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ tại khâu cuối bán lẻ trực tiếp hoặc bán cho hộ, cá nhân kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì mới phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo mức thuế suất 5%. Đây là mức thuế suất ưu đãi so mức thuế suất 10% thông thường. Cơ sở sản xuất, kinh doanh bán lẻ gạo được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào phát sinh trong khâu bán lẻ bảo đảm giá cả thấp, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

– Gạo xuất khẩu được áp dụng mức thuế suất thuế GTGT 0%, cơ sở kinh doanh xuất khẩu gạo được hoàn lại số thuế GTGT đầu vào của gạo xuất khẩu theo quy định, qua đó giúp sản phẩm nông nghiệp Việt Nam cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Như vậy chính sách thuế GTGT đối với gạo cũng như đối với các hàng hóa nông lâm, thủy hải sản khác đang được ưu đãi ở mức cao nhất. Chính sách này cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hơn là tư thương bán buôn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh chiếm lĩnh thị phần qua đó trở thành đầu mối sản xuất, kinh doanh gạo.

Hơn nữa, việc mua gạo tư thương tại các chợ truyền thống cũng như những thực phẩm khác thực tế là do thói quen của người dân và giá bán gạo của doanh nghiệp chưa cạnh tranh bằng giá của hộ tư thương cơ bản không có nguyên nhân từ áp dụng thuế GTGT với mức thuế suất 5%. Mặt khác, với giá gạo mua từ người nông dân giữa doanh nghiệp và hộ tư thương như nhau thì về nguyên tắc, giá thành gạo của doanh nghiệp cần thấp hơn của hộ tư thương do quy mô lớn hơn, năng suất (xay xát, đánh bóng, đóng gói) cao hơn. Bên cạnh đó còn mức lợi nhuận trên đơn vị sản phẩm, dù định mức thấp hơn thì doanh nghiệp vẫn có khả năng đạt quy mô lợi nhuận lớn hơn.

Từ những nội dung trên, ý kiến cho rằng mức chênh lệch giá là do việc áp dụng thuế suất thuế GTGT 5% đối với doanh nghiệp trong khi tư thương bán buôn nộp mức thuế khoán 1% trên doanh thu, dẫn đến doanh nghiệp bất lợi trong cạnh tranh tiêu thụ gạo nội địa, khó xây dựng được thương hiệu gạo trong khi các hàng hóa nông lâm, thủy hải sản khác cùng áp dụng chính sách thuế GTGT mà không gặp khó khăn như gạo là chưa phù hợp với thực tế.

Theo Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 (điểm a khoản 1 Mục III Điều 1 Quyết định số 732/QĐ-TTG ngày 17/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ) thì nội dung cải cách thuế GTGT là “Sửa đổi, bổ sung theo hướng giảm bớt số lượng nhóm hàng hóa dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng; giảm bớt nhóm hàng hóa, dịch vụ chịu thuế suất 5%; bổ sung quy định để xác định đúng cơ chế thu đối với một số loại hàng hóa, dịch vụ mới phát sinh theo sự phát triển của kinh tế thị trường; nghiên cứu đến năm 2020 áp dụng cơ bản một mức thuế suất (không kể mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu) “.

Do vậy việc kiến nghị sửa đổi thuế suất thuế GTGT đối với doanh nghiệp kinh doanh lương thực nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán gạo cho các đối tượng không phải là doanh nghiệp, hợp tác xã thì kê khai, tính nộp thuế GTGT theo mức thuế suất 1% không phù hợp với Chiến lược cải cách thuế GTGT đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (hiện hành gạo cùng những hàng hóa tiêu dùng thiết yếu khác đều được áp dụng thuế suất 5% trong khi hàng hóa thông thường chịu thuế suất 10%).

Công văn số 5023/TCT-TNCN ngày 30/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc trả lời kiến nghị của Công ty

– Về khoản tiền công tác phí: Trường hợp các khoản thanh toán tiền công tác phí của các cá nhân đi công tác theo đúng quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của Công ty được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành thì các khoản thanh toán tiền công tác phí này là khoản thu nhập được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.

– Về khoản chi tiền điện thoại cho cá nhân: Trường hợp khoản chi tiền điện thoại cho cá nhân nếu được ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức được hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty, Tập đoàn; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp thì khoản chi tiền điện thoại cho cá nhân là thu nhập được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNCN.

– Trường hợp đơn vị chi tiền công tác phí, tiền điện thoại cho người lao động cao hơn mức khoán chi quy định thì phần chi cao hơn mức khoán chi quy định phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.

Công văn số 5018/TCT-CS ngày 30/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc chính sách thuế GTGT

Căn cứ các quy định trên, trường hợp cơ sở kinh doanh thực hiện dịch vụ sơ chế, bảo quản sản phẩm nông nghiệp (nhận ghẹ nguyên liệu → luộc → gỡ thịt → ướp lạnh) thì doanh thu dịch vụ thu được (không bao gồm giá trị nguyên vật liệu) thuộc đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất 5%.

Công văn số 5017/TCT-CS ngày 30/10/2017 của Tổng cục Thuế về thuế GTGT

Căn cứ quy định trên, về chính sách thuế GTGT đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình cho doanh nghiệp chế xuất, ngày 11/05/2017 Cục Thuế thành phố Hải Phòng đã có công văn số 4574/CT-TT&HT trả lời Công ty TNHH Won Kwang Vina. (áp dụng thuế suất 0%).

Công văn số 4975/TCT-KK ngày 27/10/2017 của Tổng cục Thuế về khai thuế đối với chi nhánh

Trường hợp Tổng công ty có dự án kinh doanh bất động sản dự án Khu đô thị mới Nam Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc. Tổng công ty thành lập đơn vị trực thuộc là Chi nhánh Tổng công ty cổ phần Đầu tư phát triển Xây dựng tại Vĩnh Phúc thì:

+ Về thuế giá trị gia tăng:

Chi nhánh Tổng công ty cổ phần Đầu tư phát triển Xây dựng tại Vĩnh Phúc thực hiện đăng ký thuế và nộp thuế theo phương pháp khấu trừ đối với hoạt động kinh doanh bất động sản thuộc dự án Khu đô thị mới Nam Vĩnh Yên tại Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Về thuế thu nhập doanh nghiệp:

Tổng công ty cổ phần Đầu tư phát triển Xây dựng có trách nhiệm tính và tạm nộp số thuế thu nhập doanh nghiệp quý hoặc thực hiện kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo từng lần phát sinh (nếu có nhu cầu) đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh bất động sản thuộc dự án Khu đô thị mới Nam Vĩnh Yên cho Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc.

Kết thúc năm tính thuế, Tổng công ty làm thủ tục quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp cho toàn bộ hoạt động chuyển nhượng bất động sản dự án Khu đô thị mới Nam Vĩnh Yên đã tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quý hoặc theo từng lần phát sinh theo hướng dẫn tại khoản 6 Điều 12 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013, được sửa đổi bổ sung tại Điều 16 Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính.

Công văn số 4964/TCT-TNCN ngày 26/10/2017 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế TNCN

Trường hợp văn phòng đại diện tại Hà Nội có chi trả khoản học phí cho con riêng của vợ trưởng văn phòng đại diện (là người nước ngoài) thì khoản học phí trên là thu nhập không chịu thuế TNCN.

Công văn số 4936/TCT-TNCN ngày 25/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc xác định tình trạng cư trú của cá nhân

Trường hợp cá nhân là người Việt Nam được Công ty cử đi thực tập, đào tạo tay nghề tại Nhật Bản, cá nhân đó có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế thì cá nhân được lựa chọn việc xác định tình trạng cư trú của cá nhân tại Việt Nam như sau:

– Nếu cá nhân chứng minh là đối tượng cư trú tại Nhật Bản theo quy định của Nhật Bản thì cá nhân được xác định là không cư trú tại Việt Nam và kê khai thu nhập chịu thuế TNCN phát sinh tại Việt Nam theo thuế suất toàn phần. Các khoản thu nhập phát sinh tại Việt Nam nếu Công ty đã khấu trừ và khai thuế TNCN theo Biểu thuế lũy tiến từng phần thì điều chỉnh lại theo thuế suất áp dụng đối với cá nhân không cư trú.

– Nếu cá nhân không chứng minh là đối tượng cư trú tại Nhật Bản theo quy định của Nhật Bản thì cá nhân được xác định là cư trú tại Việt Nam. Cá nhân có trách nhiệm kê khai thu nhập phát sinh tại Việt Nam và thu nhập phát sinh ngoài lãnh thổ Việt Nam (nếu có) theo Biểu thuế lũy tiến từng phần.

Công văn số 4853/TCT-CS ngày 19/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc thuế GTGT tàu đánh bắt xa bờ

Công ty ký hợp đồng đóng mới tàu cho các chủ tàu được Nhà nước hỗ trợ vay ưu đãi theo quy định của Chính phủ. Trong công văn, Công ty nêu cụ thể một hợp đồng có tổng giá trị hợp đồng 14.839.517.766 VNĐ, tách riêng phần chưa thuế 13.490.470.696 VNĐ, thuế GTGT 1.349.047.070 VNĐ thì số tiền thuế GTGT này không phải số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ, phục vụ cho việc đóng mới tàu mà tương ứng với 10% thuế GTGT đầu ra của con tàu. Như vậy, giá đóng mới tàu đã bao gồm cả 10% thuế GTGT đầu ra là không phù hợp các quy định nêu trên.

Công văn số 4838/TCT-QLN ngày 19/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc nộp thuế khi xuất hoá đơn lẻ

Trong thời gian hiệu lực 01 năm của quyết định cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng, người nộp thuế không được sử dụng hóa đơn.

Tuy nhiên, để tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế đang bị cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng, đồng thời cơ quan thuế thu hồi được sốtiền thuế nợ vào NSNN, Bộ Tài chính đã ban hành công văn số 5936/TCT-QLN ngày 21/12/2016 hướng dẫn sử dụng hóa đơn đối với các trường hợp đang bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng, nếu người nộp thuế có văn bản đề nghị sử dụng từng hóa đơn lẻ cho từng lô hàng, hạng mục công trình hoàn thành để có nguồn thanh toán tiền lương công nhân, thanh toán các khoản chi phí đảm bảo sản xuất kinh doanh được liên tục thì cơ quan thuế cho phép người nộp thuế sử dụng từng hóa đơn lẻ với điều kiện người nộp thuế có văn bản cam kết thực hiện nộp ngay 18% doanh thu trên hóa đơn lẻ được sử dụng vào ngân sách nhà nước.

Tỷ lệ nộp vào NSNN 18% doanh thu trên hóa đơn lẻ được sử dụng, Bộ Tài chính căn cứ trên cơ sở rà soát, đánh giá tình hình thực tế khó khăn, vướng mắc và kiến nghị của nhiều doanh nghiệp, đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp và nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước, thuận lợi trong việc nộp tiền thuế nợ, cơ quan thuế thu ngay số thuế phát sinh trên hóa đơn lẻ được sử dụng và người nộp thuế phải nộp một phần tiền thuế đang nợ vào NSNN. Tỷ lệ nộp này đã được Bộ Tài chính rà soát cắt giảm từ 25% (công văn số1695/TCT-QLN ngày 22/4/2016 của Tổng cục Thuế) xuống mức 18% tính trên doanh thu của hóa đơn lẻ được sử dụng.

Đối với kiến nghị của Công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải Cần Thơ đề xuất giảm mức phải nộp xuống 9% doanh thu trên hóa đơn lẻ được sử dụng, tỷ lệ này chưa đảm bảo được việc thu hồi một phần tiền thuế đang nợ và thu ngay số thuế phát sinh của hóa đơn xuất lẻ vào NSNN, làm phát sinh tăng thêm nợ mới.

Công văn số 4807/TCT-KK ngày 17/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc đăng ký thông tin tài khoản ngân hàng

Doanh nghiệp đăng ký thay đổi, bổ sung thông tin tài khoản ngân hàng theo quy định tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP và Thông tư số 20/2015/TT-BKH theo đó khi phát sinh thay đổi, bổ sung thông tin về tài khoản ngân hàng có doanh nghiệp làm chủ tài khoản thì doanh nghiệp gửi Thông báo theo mẫu quy định tại Thông tư số 20/2015/TT-BKH nêu trên đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính theo đúng thời hạn quy định, không phải khai báo thông tin thay đổi với cơ quan thuế.

Công văn số 70613/CT-TTHT ngày 31/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc xác định chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế TNDN đối với chi phí cử lao động đi công tác nước ngoài

– Đối với khoản tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp, trợ cấp (trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp quy định tại Tiết b, Khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC nêu trên) mà người lao động sang nước ngoài làm việc nhận được được tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.

– Trường hợp người lao động của Công ty được cử đi công tác ở nước ngoài để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, có phát sinh chi phí đi công tác nước ngoài như chi phí đi lại, tiền thuê nhà nếu có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 (tại Khoản 1 Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTCđã được sửa đổi, bổ sung) thì được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.

– Trường hợp Công ty có phát sinh các chi phí liên quan đến văn phòng đại diện tại nước ngoài thì các khoản chi này được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC nêu trên (tại Khoản 2.9 Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC đã được sửa đổi, bổ sung).

Đối với các chi phí phát sinh tại nước ngoài thì các hóa đơn chứng từ của các khoản chi phí này phải phù hợp với quy định của nước sở tại và phải được dịch ra tiếng Việt theo hướng dẫn tại Khoản 4 Điều 5 Thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính.

Công văn số 70589/CT-TTHT ngày 31/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về chính sách thuế TNCN đối với cá nhân làm việc cho dự án viện trợ sử dụng nguồn vốn ODA

Trường hợp Ban quản lý các dự án hỗ trợ phòng, chống HIV/AIDS có khoản chi công tác phí, ăn ở, đi lại cho cán bộ của dự án và các đơn vị khác được cử tham dự hội nghị, hội thảo, tập huấn, các đoàn công tác trong nước và ngoài nước bằng nguồn tài trợ của nước ngoài và theo đúng định mức chi của nhà tài trợ thì khoản chi công tác phí này không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập của cá nhân; trường hợp chi công tác phí cao hơn định mức của nhà tài trợ thì phần chi vượt phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN

Công văn số 70588/CT-TTHT ngày 31/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc xác định hoạt động đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ nhân viên hàng không

Hoạt động đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ nhân viên hàng không …đã được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ đào tạo cho Công ty, dịch vụ đào tạo trên thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định tại Khoản 13 Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính.

Công văn số 70587/CT-TTHT ngày 31/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc hướng dẫn lập hồ sơ đăng ký người phụ thuộc

  1. Về việc xác nhận không có thu nhập:

Trường hợp Bà Quyên đăng ký giảm trừ gia cảnh cho bố đẻ, mẹ đẻ, em ruột, dì ruột không có thu nhập và ngoài tuổi lao động thì người nộp thuế phải cam kết và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc người phụ thuộc không có thu nhập hoặc thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không quá 01 (một) triệu đồng.

  1. Về việc hồ sơ chứng minh người phụ thuộc:

– Trường hợp người nộp thuế đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc là cha đẻ, mẹ đẻ sống cùng hộ khẩu, không có thu nhập và ngoài độ tuổi lao động thì hồ sơ chứng minh người phụ thuộc gồm: Bản chụp Chứng minh nhân dân, Giấy tờ hợp pháp để xác định mối quan hệ của người phụ thuộc với người nộp thuế như bản chụp sổ hộ khẩu (nếu có cùng sổ hộ khẩu), giấy khai sinh.

– Trường hợp người nộp thuế đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc là em ruột, dì ruột thuộc đối tượng là cá nhân không nơi nương tựa, không có thu nhập mà người nộp thuế đang trực tiếp nuôi dưỡng thì hồ sơ chứng minh là bản chụp CMND hoặc giấy khai sinh, các giấy tờ hợp pháp để xác định trách nhiệm nuôi dưỡng theo đúng quy định của pháp luật (nếu có), bản chụp đăng ký tạm trú của người phụ thuộc và bản tự khai của người nộp thuế theo mẫu số 09/XN-NPT-TNCN (ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015) có xác nhận của UBND cấp xã nơi người phụ thuộc đang cư trú tại địa phương và không có ai nuôi dưỡng.

Người nộp thuế phải tự xác định cá nhân không nơi nương tựa theo đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về hồ sơ chứng minh người phụ thuộc theo quy định của Luật thuế TNCN.

Công văn số 70536/CT-TTHT ngày 31/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về thuế GTGT vãng lai ngoại tỉnh của kho hàng

Trường hợp kho hàng phụ của Công ty tại Nam Định, Lào Cai không hoạt động sản xuất kinh doanh bán hàng, chỉ làm chức năng chứa hàng thì không phải hoạt động bán hàng vãng lai và Công ty không phải kê khai thuế GTGT vãng laingoại tỉnh cho hoạt động của kho hàng. Trường hợp tại kho hàng của Công ty có phát sinh hoạt động bán hàng, xuất hóa đơn thì Công ty phải kê khai thuế GTGT vãng lai ngoại tỉnh theo điểm a Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 26/2015/TT-BTC nêu trên.

Công văn số 70534/CT-TTHT ngày 31/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc khấu trừ thuế TNCN đối với hợp đồng học việc

  1. Đối với trường hợp Văn phòng không ký hợp đồng lao động (theo quy định của Bộ luật Lao động) mà ký hợp đồng học việc với nhân viên thực tập tại Văn phòng thì khi chi trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên Văn phòng phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho nhân viên thực tập theo hướng dẫn tại điểm i Khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTCnêu trên.
  2. Đối với trường hợp Văn phòng chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động thì các khoản tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công Văn phòng thanh toán cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng được xác định như sau:

– Đối với khoản trợ cấp thôi việc, người lao động nghỉ việc theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và Bộ luật Lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của người lao động;

– Đối với khoản tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công Văn phòng chi trả cho người lao động thì khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần.

– Đối với khoản hỗ trợ tài chính mà Văn phòng trả thêm cho người lao động (ngoài quy định của Bộ Luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội) sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động, nếu khoản chi này từ hai triệu (2.000.000) đồng trở lên thì Văn phòng phải khấu trừ thuế TNCN theo mức 10% trên tổng thu nhập chi trả.

Công văn số 70145/CT-TTHT ngày 30/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc xác định các khoản thu nhập từ SX phần mềm là doanh thu chịu thuế TNDN

Căn cứ các quy định trên, do độc giả không cung cấp hồ sơ tài liệu cụ thể nên Cục Thuế TP Hà Nội trả lời nguyên tắc như sau:

Trường hợp công ty của độc giả có dự án đầu tư mới sản xuất phần mềm thuộc danh mục sản phẩm phần mềm (Phụ lục 01 – Thông tư 09/2013/TT-BTTTT ngày 08/4/2013 của Bộ Thông tin và truyền thông) và đáp ứng quy trình về sản xuất phần mềm theo quy định của pháp luật (Điều 6 Thông tư số 16/2014/TT-BTTTT ngày 18/11/2014 của Bộ Thông tin và truyền thông) thì được hưởng ưu đãi thuế TNDN đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất phần mềm nếu đáp ứng các điều kiện ưu đãi thuế TNDN quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 18 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính và đáp ứng điều kiện về dự án đầu tư mới theo quy định tại Khoản 3 Điều 10 Thông tư 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính, cụ thể:

Được hưởng thuế suất thuế TNDN ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm, miễn thuế TNDN 4 năm, giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 9 năm tiếp theo. Thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính liên tục từ năm đầu tiên công ty có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế. Trường hợp công ty không có thu nhập chịu thuế trong ba năm đầu, kể từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự án đầu tư mới thì thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư dự án đầu tư mới phát sinh doanh thu theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 và Điều 12 Thông tư 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính.

Công văn số 70143/CT-TTHT ngày 30/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về điều kiện để được tính vào CP được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế đối với khoản các chi: bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng.

Trường hợp công ty thực hiện thủ tục chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất thuê nằm trong Cụm Công nghiệp Quất Động, xã Quất Động, huyện Thường Tín theo đúng quy định pháp luật, có các khoản chi phí liên quan đến hoạt động chuyển nhượng này là chi bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng và chi quy hoạch cụm công nghiệp Quất Động phát sinh năm 2005. Các khoản chi phí này thực hiện theo đúng quy định pháp luật, có phiếu thu và trên phiếu thu có ghi rõ đơn vị nhận tiền là Ban quản lý dự án các Cụm Công nghiệp huyện Thường Tín, số tiền đền bù, hỗ trợ và có chữ ký của người nhận tiền; kèm theo phiếu thu là bản xác nhận của UBND huyện Thường Tín xác nhận việc công ty đã nộp đầy đủ kinh phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng thì các khoản chi này được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN đối với hoạt động chuyển nhượng tài sản gắn liền trên đất nếu từ thời điểm phát sinh đến thời điểm chuyển nhượng khoản chi này chưa được hạch toán vào chi phí.

Công văn số 70142/CT-TTHT ngày 30/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc nghĩa vụ phải lập hóa đơn khi hoàn thành dịch vụ tiêu hủy hàng hóa

Trường hợp theo thỏa thuận, Chi nhánh I – Công ty Cổ phần Thuốc sát trùng Việt Nam đứng ra thực hiện thủ tục tiêu hủy hàng hóa thay cho Công ty TNHH Trường Thịnh, hóa đơn do đơn vị thực hiện tiêu hủy xuất đứng tên Chi nhánh I thì khi thu lại tiền dịch vụ tiêu hủy hàng hóa của Công ty TNHH Trường Thịnh, Chi nhánh I phải lập hóa đơn cho Công ty TNHH Trường Thịnh và kê khai nộp thuế theo quy định.

Công văn số 70140/CT-TTHT ngày 30/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về các trường hợp được hoàn thuế GTGT

Trường hợp Công ty TNHH MTV Nhãn Bao Bì Vi Na Úc Hà Nội (sau đây gọi tắt là Công ty) sản xuất và kinh doanh nhãn, bao bì bằng nhựa và giấy, thực hiện kê khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, có số thuế GTGT đầu vào lũy kế chưa khấu trừ hết đến tháng 8/2017 là 5.467.658.371 đồng thì Công ty không được hoàn thuế mà khấu trừ vào kỳ tính thuế tiếp theo theo quy định.

Công văn số 70141/CT-TTHT ngày 30/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc xác định không tính vào thu nhập chịu thuế TNDN đối với thu nhập từ chênh lệch tỷ giá do thu hộ, chi hộ

Căn cứ quy định trên, trường hợp VPĐD chi hộ tiền vé máy bay cho các chuyên gia được cử từ Công ty mẹ sang Việt Nam làm việc, sau đó Công ty mẹ hoàn trả lại khoản chi hộ này cho Công ty bằng ngoại tệ chuyển qua ngân hàng, khi VPĐD nhận lại tiền chi hộ này có phát sinh chênh lệch tỷ giá thì khoản chênh lệch tỷ giá này không liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của VPĐD. VPĐD không được ghi nhận khoản chênh lệch tỷ giá này vào thu nhập (bao gồm cả thu nhập khác nếu lãi) hay chi phí (bao gồm cả chi phí tài chính nếu lỗ) khi xác định kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị.

Công văn số 70138/CT-TTHT ngày 30/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc quy định các khoản chi có tính chất phúc lợi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN

Trường hợp Tổng công ty Điện lực TKV – CTCP là doanh nghiệp đã được cổ phần hóa (theo Quyết định số 1365/QĐ-BCT ngày 11/12/2015 của Bộ Công thương, cổ phần nhà nước tại đơn vị chiếm 99,68% vốn điều lệ), có khoản chi có tính chất phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động như chi tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, tổ chức các hoạt động nhân ngày lễ, tết cho người lao động, chi trợ cấp khó khăn cho người lao động về hưu, về mất sức,… nếu có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật và tổng số chi có tính chất phúc lợi không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/06/2015 của Bộ Tài chính đồng thời khoản chi phúc lợi không hạch toán từ nguồn quỹ phúc lợi thì khoản chi này được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN trong kỳ tính thuế.

Công văn số 69017/CT-TTHT ngày 24/10/2017 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc xác định không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN đối với khoản thu nhập của các cá nhân tham gia đề án cấp Quốc gia, thực hiện bằng nguồn NSNN

Nếu Viện thực hiện Đề án “Nghiên cứu khu di tích bảo tồn khảo cổ học Óc Eo – Ba Thê, Nền Chùa”; đề tài khoa học “Lịch sử Việt Nam – Tập I (thời Nguyên thủy)” là đề án cấp quốc gia, nguồn kinh phí thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước thì không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN đối với các khoản thu nhập mà các thành viên là cá nhân nhận được khi tham gia thực hiện đề án.

Công văn số 4748/TCT-CS ngày 13/10/2017 của Tổng cục Thuế về thuế GTGT đối với tài nguyên xuất khẩu

Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập có dự án đầu tư sản xuất sản phẩm từ tài nguyên, khoáng sản (có nguồn gốc trong nước) đã chế biến thành sản phẩm khác thì phải xác định tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng chi phí năng lượng trên giá thành sản xuất căn cứ vào phương án đầu tư khi chưa có báo cáo quyết toán thuế năm trước. Tài nguyên, khoáng sản có nguồn gốc nhập khẩu không thuộc đối tượng phải tính trị giá tài nguyên, khoáng sản. Về nguyên tắc, việc xác định tỷ lệ trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng chi phí năng lượng trên giá thành sản xuất sản phẩm do doanh nghiệp tự xác định và tự chịu trách nhiệm.

Trường hợp, sản phẩm của dự án đầu tư nêu trên đáp ứng điều kiện về tỷ trọng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng chi phí năng lượng trên giá thành sản xuất, dự án đầu tư đáp ứng điều kiện về hoàn thuế GTGT thì việc hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 3.3 Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính.

Công văn số 4740/TCT-CS ngày 13/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc hoàn thuế GTGT

Cơ sở kinh doanh trong tháng/quý vừa có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vừa có hàng hóa, dịch vụ bán trong nước thì cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng số thuế GTGT đầu vào sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu. Trường hợp không hạch toán riêng được thì số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được xác định theo tỷ lệ giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu trên tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ của các kỳ khai thuế giá trị gia tăng tính từ kỳ khai thuế tiếp theo kỳ hoàn thuế liền trước đến kỳ đề nghị hoàn thuế hiện tại.

Số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu (bao gồm số thuế GTGT đầu vào hạch toán riêng được và số thuế GTGT đầu vào được phân bổ theo tỷ lệ nêu trên) nếu sau khi bù trừ với số thuế GTGT phải nộp của hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trong nước còn lại từ 300 triệu đồng trở lên thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế cho hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, số thuế GTGT được hoàn của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu không vượt quá doanh thu của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nhân (x) với 10%.”

Công văn số 4733/TCT-CS ngày 13/10/2017 của Tổng cục Thuế về mẫu 06/GTGT

Trường hợp Công ty TNHH Yojee Ops Việt Nam mới thành lập ngày 28/3/2017 thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ đã nộp Thông báo áp dụng phương pháp tính thuế GTGT (mẫu 06/GTGT) tới cơ quan thuế quản lý trực tiếp vào ngày 22/5/2017 để đăng ký áp dụng phương pháp khấu trừ thì đề nghị Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh hướng dẫn để Công ty TNHH Yojee Ops Việt Nam áp dụng phương pháp khấu trừ thuế.

Công văn số 4657/TCT-KK ngày 11/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc hoàn thuế GTGT hàng xuất khẩu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng

Tại kỳ tính thuế tháng 9/2016, Công ty CP Thủy sản Sóc Trăng thực hiện xuất khẩu lô hàng tôm đông lạnh theo phương thức thanh toán L/C cho khách hàng Echopack INC. Tuy nhiên, đến hiện tại đã quá hạn thanh toán, doanh nghiệp vẫn chưa nhận được tiền thanh toán từ khách hàng, không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì trường hợp Công ty CP Thủy sản Sóc Trăng có một trong các giấy tờ để thay thế chứng từ thanh toán qua ngân hàng theo quy định tại điểm d1 Khoản 3 Điều 16 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính cho lô hàng xuất khẩu nêu trên thì Công ty CP Thủy sản Sóc Trăng được khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào tương ứng của lô hàng xuất khẩu theo quy định.

Trường hợp Công ty CP Thủy sản Sóc Trăng không đáp ứng điều kiện về thanh toán qua ngân hàng hoặc không có một trong số các giấy tờ để thay thế cho chứng từ thanh toán qua ngân hàng theo quy định thì không được khấu trừ và hoàn thuế đối với số thuế GTGT đầu vào tương ứng với lô hàng xuất khẩu.

Công văn số 4702/TCT-CS ngày 12/10/2017 của Tổng cục Thuế về hóa đơn

Tổ chức kinh doanh trước khi sử dụng hóa đơn cho việc bán hàng hóa, dịch vụ phải lập và gửi Thông báo phát hành hóa đơn, hóa đơn mẫu cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất hai (02) ngày trước khi tổ chức kinh doanh bắt đầu sử dụng hóa đơn. Thông báo phát hành hóa đơn gồm cả hóa đơn mẫu phải được niêm yết rõ ràng ngay tại các cơ sở sử dụng hóa đơn để bán hàng hóa, dịch vụ trong suốt thời gian sử dụng hóa đơn.

Trường hợp khi nhận được Thông báo phát hành do tổ chức gửi đến, cơ quan Thuế phát hiện thông báo phát hành không đảm bảo đủ nội dung theo đúng quy định thì trong thời hạn hai (02) ngày làm việc kể từ ngày nhận được Thông báo, cơ quan thuế phải có văn bản thông báo cho tổ chức biết. Tổ chức có trách nhiệm điều chỉnh để thông báo phát hành mới.

Công văn số 4705/TCT-CS ngày 12/10/2017 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế đối với hàng khuyến mãi

  1. Về thuế GTGT:

Từ ngày 01/01/2004 đến ngày 30/06/2007, doanh nghiệp thực hiện chính sách khuyến mại phù hợp với nguyên tắc thực hiện khuyến mại được quy định tại Nghị định số 32/1999/NĐ-CP ngày 5/5/1999 về khuyến mại quảng cáo thương mại, hội chợ triển lãm thương mại và Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 4/4/2006 của Chính phủ quy định chi tiết về xúc tiến thương mại, nhưng doanh nghiệp không thông báo hoặc đăng ký bằng văn bản chương trình khuyến mại với Sở Thương mại (nay là Sở Công Thương) là vi phạm về trình tự, thủ tục. Do đó, khi xuất hàng cho khách hàng doanh nghiệp phải tính, kê khai, nộp thuế GTGT.

  1. Về thuế TNDN

Trường hợp doanh nghiệp có thực hiện khuyến mại, giá trị sản phẩm, hàng hóa dùng để khuyến mại cho khách hàng nếu có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định thì khoản chi phí khuyến mại này sẽ được hạch toán vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế và chịu mức khống chế theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.

Công văn số 4714/TCT-CS ngày 12/10/2017 của Tổng cục Thuế về thuế GTGT đối với tài nguyên xuất khẩu

Theo trình bày của Cục Thuế tỉnh Bắc Giang tại công văn số 3568/CT-KTT1 thì quy trình sản xuất sản phẩm của Công ty TNHH Vật liệu hợp kim Boviet Vina như sau: Công ty thu mua đồng, phế liệu đồng của các doanh nghiệp trong nước để tinh luyện đồng để đạt tỷ lệ đồng tinh chất cao, cuốn ống xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông – Trung Quốc.

Căn cứ các hướng dẫn nêu trên và theo trình bày của Cục Thuế tỉnh Bắc Giang thì các sản phẩm xuất khẩu của Công ty TNHH Vật liệu hợp kim Boviet Vina thuộc trường hợp phải xác định tỷ trọng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng chi phí năng lượng trên giá thành sản xuất sản phẩm để áp dụng chính sách thuế giá trị gia tăng phù hợp.

Công văn số 4561/TCT-KK ngày 05/10/2017 của Tổng cục Thuế về việc quản lý khai thuế đối với doanh nghiệp chế xuất

DNCX không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hoạt động sản xuất để xuất khẩu nên không phải kê khai thuế GTGT với cơ quan thuế cho hoạt động này.

Trường hợp ngoài hoạt động sản xuất để xuất khẩu, DNCX còn được cấp phép để thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam (bao gồm cả hoạt động giao dịch mua hàng hóa tại Việt Nam để xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam để bán – gọi chung là hoạt động quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu) theo quy định của pháp luật thì hoạt động này thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, DNCX phải thực hiện đăng ký thuế với cơ quan thuế nội địa và thực hiện mở sổ kế toán hạch toán riêng doanh thu, chi phí liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa tại Việt Nam, không hạch toán chung vào hoạt động sản xuất, đồng thời phải bố trí khu vực riêng để lưu giữ hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu theo quyền nhập khẩu, quyền xuất khẩu.

DNCX chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác đối với việc thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật, Các ưu đãi đầu tư, ưu đãi về thuế và các ưu đãi tài chính khác áp dụng đối với việc sản xuất để xuất khẩu của DNCX không áp dụng đối với hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của DNCX.

Bổ sung trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không phải xin phép

Ngày 29/9/2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT về việc quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai. Theo đó, các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng phải đăng ký biến động, bao gồm: Chuyển đất trồng cây hàng năm sang đất nông nghiệp khác; Chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất nuôi trồng thủy sản sang trồng cây lâu năm; Chuyển đất thương mại, dịch vụ sang đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ… Về việc sử dụng đất trong dự án sản xuất, kinh doanh thực hiện theo phương thức thỏa thuận mua tài sản gắn liền với đất, nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất thì trường hợp đang sử dụng đất trong khu vực dự án mà đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định, nhưng chưa có GCN QSDĐ thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông báo cho người sử dụng đất để thực hiện thủ tục cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trước khi thực hiện giao dịch với chủ đầu tư.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 05/12/2017.

Hướng dẫn về giám sát giao dịch chứng khoán

Ngày 25/10/2017, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 115/2017/TT-BTC về việc hướng dẫn giám sát giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Theo đó, tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch chứng khoán, cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán có nghĩa vụ cung cấp, cập nhật kịp thời, đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu, dữ liệu điện tử liên quan đến nội dung giám sát giao dịch chứng khoán theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán. Đồng thời các đối tượng nêu trên còn phải giải trình theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch Chứng khoán đối với các sự việc liên quan đến giao dịch chứng khoán theo quy định và thực hiện công bố thông tin trong các trường hợp: Giao dịch chứng khoán của tổ chức, cá nhân là cổ đông lớn; Giao dịch chứng khoán của tổ chức, cá nhân và người có liên quan có ý định nắm giữ tới 25% cổ phiếu có quyền biểu quyết, chứng chỉ quỹ của một tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch, quỹ đóng… Trường hợp tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch chứng khoán, cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán không phối hợp, hợp tác với các cơ quan liên quan sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 08/12/2017.

Phương pháp tính lãi tiền gửi giữa TCTD và khách hàng

Ngày 29/9/2017, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 14/2017/TTNHNN về việc quy định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng. Theo đó, lãi suất tính lãi được quy đổi theo lãi suất năm, 01 năm được xác định là 365 ngày. Đồng thời, cho phép tổ chức tín dụng được thỏa thuận với khách hàng về thời hạn tính lãi và thời điểm xác định số dư để tính lãi.

Đối với các khoản tiền gửi, cấp tín dụng sử dụng hợp đồng theo mẫu hoặc điều kiện giao dịch chung trong giao kết thỏa thuận nhận tiền gửi, cấp tín dụng, tổ chức tín dụng phải thực hiện minh bạch thông tin về hợp đồng theo mẫu hoặc điều kiện giao dịch chung theo quy định pháp luật về nhận tiền gửi và cấp tín dụng; phải niêm yết công khai thông tin về phương pháp tính lãi tại trụ sở và đăng tải trên trang thông tin điện tử của tổ chức tín dụng (nếu có). Trước khi thực hiện giao dịch, tổ chức tín dụng phải cung cấp đầy đủ thông tin cho khách hàng về phương pháp tính lãi và mức lãi suất tính lãi. Trường hợp có thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng về phương pháp tính lãi trước ngày 01/01/2018, được tiếp tục thực hiện theo các thỏa thuận đã ký kết phù hợp với quy định pháp luật tại thời điểm ký kết.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

AVN AUDITThông tin Liên hệ
Đối tác tin cậy cho dịch vụ kế toán,
kiểm toán, tư vấn & đào tạo.
VỊ TRÍCác trụ sở của chúng tôi
Đà Nẵng

270 Xô Viết Nghệ Tĩnh

TP Hồ Chí Minh

Tầng 19, Tòa nhà Indochina, số 04 Nguyễn Đình Chiểu, quận 1

Quảng Bình

Số 04, đường Mai Lượng, phường Nam Lý, Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

Buôn Ma Thuột

36 Phạm Hồng Thái, Phường Tự An, TP Buôn Ma Thuột

AVN AUDITKết nối
Kết nối với AVN để nhận những thông tin mới nhất
AVN AuditThông tin liên hệ
Đối tác tin cậy cho dịch vụ kế toán,
kiểm toán, tư vấn & đào tạo.
VỊ TRÍCác trụ sở của chúng tôi
Đà Nẵng

270 Xô Viết Nghệ Tĩnh

TP Hồ Chi Minh

Tầng 19, Tòa nhà Indochina, số 04 Nguyễn Đình Chiểu, quận 1

Quảng Bình

Số 04, đường Mai Lượng, phường Nam Lý, Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

Buôn Ma Thuột

36 Phạm Hồng Thái, Phường Tự An, TP Buôn Ma Thuột

AVN AUDITKết nối
Kết nối với AVN để nhận những thông tin mới nhất