Trong Bản tin tháng 07 năm 2018, chúng tôi xin giới thiệu đến quý khách hàng các chính sách mới liên quan đến thuế, lao động và các quy định khác có hiệu lực thi hành trong tháng 7 và 8/2018 bao gồm:
Thuế – Hóa đơn – Chứng từ
- Công văn số 2779/TCT-CS của Tổng cục Thuế ngày 13/07/2018 v/v thuế GTGT;
- Công văn số 2778/TCT-CS của Tổng cục Thuế ngày 13/07/2018 v/v quản lý thuế đối với các tổ chức hoạt động kinh doanh taxi;
- Công văn số 2776/TCT-CS của Tổng cục Thuế ngày 13/07/2018 v/v thuế GTGT;
- Công văn số 2775/TCT-CS của Tổng cục Thuế ngày 13/07/2018 v/v xử phạt về hoá đơn;
- Công văn số 2773/TCT-KK của Tổng cục Thuế ngày 13/07/2018 v/v nộp thuế GTGT vãng lai ngoại tỉnh;
- Công văn số 2749/TCT-KK của Tổng cục Thuế ngày 12/07/2018 v/v khấu trừ thuế GTGT đối với các công trình sử dụng nguồn vốn NSNN;
- Công văn số 2710/TCT-PC của Tổng cục Thuế ngày 09/07/2018 v/v phạt chậm nộp thuế TNCN.
Tiền lương, bảo hiểm
- Thông tư số 05/2018/TT-BLĐTBXH ngày 29/06/2018 của Bộ Lao động Thương binh Xã hội hướng dẫn điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hàng tháng đối với đối tượng quy định tại Khoản 1, 2, 3 và Khoản 8 Điều 1 Nghị định 88/2018/NĐ-CP;
- Quyết định 772/QĐ-BHXHngày 15/06/2018 của BHXH Việt Nam công bố TTHC thay thế trong lĩnh vực thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN; cấp sổ BHXH, thẻ BHYT;
- Quyết định 888/QĐ-BHXHngày 16/07/2018 của BHXH Việt Nam sửa đổi Quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN kèm theo Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017.
Quy định khác
- Quyết định số 27/2018/QĐ-TTgngày 06/07/2018 của Thủ tướng Chính phủ qui định về Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam;
- Quyết định 1417/QĐ-NHNNngày 09/07/2018 của Ngân hàng Nhà nước phê duyệt phương án đơn giản hóa điều kiện kinh doanh vàng trang sứcthuộc phạm vi chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
- Thông tư 15/2018/TT-NHNNngày 18/06/2018 của Ngân hàng Nhà nước sửa đổi Thông tư 22/2016/TT-NHNN quy định việc tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu doanh nghiệ;
- Thông tư số 16/2018/TT-NHNN ngày 31/07/2018 của Ngân hàng Nhà nướcsửa đổi Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được ban hành ngày 31/7/2018;
- Thông tư số 05/2018/TT-BXD ngày 29/06/2018 của Bộ Xây dựng về hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng.
Công văn số 2779/TCT-CS của Tổng cục Thuế ngày 13/07/2018 v/v thuế GTGT
Trường hợp Công ty TNHH Hàng hải PHC cung cấp dịch vụ vận tải biển quốc tế nếu đáp ứng được điều kiện về dịch vụ xuất khẩu là dịch vụ tiêu dùng ở ngoài Việt Nam, trong khu phi thuế quan; dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài theo quy định của Chính phủ thì được coi là dịch vụ xuất khẩu và được hoàn thuế GTGT đối với trường hợp hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu theo quy định tại Luật số 106/2016/QH13. Công ty TNHH Hàng hải PHC liên hệ với Cục Thuế thành phố Hải Phòng để được hướng dẫn giải quyết hoàn thuế GTGT theo quy định.
Công văn số 2778/TCT-CS của Tổng cục Thuế ngày 13/07/2018 v/v quản lý thuế đối với các tổ chức hoạt động kinh doanh taxi
- Chính sách thuế và quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh vận tải (taxi)
Chính sách thuế hướng dẫn thống nhất chung cho hoạt động kinh doanh vận tải. Pháp luật về thuế hiện hành áp dụng thống nhất giữa các loại hình doanh nghiệp (thống nhất về mức thuế suất, về điều kiện ưu đãi đầu tư, chế độ miễn, giảm thuế,…).
Căn cứ Luật thuế Giá trị gia tăng (GTGT); Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Luật thuế Thu nhập cá nhân (TNCN); Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật trên, nghĩa vụ thuế đối với hoạt động kinh doanh taxi thực hiện như sau:
– Doanh nghiệp xác định được doanh thu, chi phí, thu nhập của hoạt động kinh doanh thì phải nộp thuế theo phương pháp kê khai.
– Phương pháp tỷ lệ trên doanh thu tính thuế chỉ áp dụng đối với nhà thầu nước ngoài không đáp ứng điều kiện nộp thuế theo phương pháp kê khai, tổ chức không phải là doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp, cá nhân kinh doanh có hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mà các đơn vị này xác định được doanh thu nhưng không xác định được chi phí, thu nhập của hoạt động kinh doanh. Tỷ lệ thuế ấn định trên doanh thu được xác định trên cơ sở doanh thu tính thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và tỷ lệ (%) thuế GTGT, thuế TNDN tính trên doanh thu tính thuế đảm bảo phù hợp với từng lĩnh vực kinh doanh và tương đồng với doanh nghiệp hoạt động cùng lĩnh vực nộp thuế theo phương pháp kê khai, cụ thể:
+ Về thuế GTGT: Trường hợp tổng doanh thu chưa đến 1 tỷ đồng/năm, tổ chức kinh doanh khai nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên doanh thu theo quy định tại khoản 2b Điều 8 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT.
+ Về thuế TNDN: số thuế TNDN phải nộp được tính theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNDN.
+ Về thuế TNCN: Cá nhân kinh doanh vận tải có trách nhiệm nộp thuế GTGT; thuế TNCN theo tỷ lệ % trên doanh thu tính thuế theo quy định tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết Luật số 71/2014/QH13; Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thuế GTGT và thuế TNCN đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh.
– Đối với các Công ty Uber, Grab, Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế đã có các văn bản hướng dẫn như sau: Công văn số 11828/BTC-CST ngày 24/08/2016 của Bộ Tài chính về chính sách thuế và quản lý thuế liên quan đến hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Uber BV Hà Lan tại Việt Nam; Công văn số 384/TCT-TNCN ngày 08/02/2017 của Tổng cục Thuế hướng dẫn nghĩa vụ thuế đối với Công ty Grab Taxi.
- Một số khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh vận tải (taxi)
Theo phản ánh của một số Cục thuế thì việc quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh taxi có sự khó khăn nhất định xuất phát từ thực tế mô hình kinh doanh đa dạng của các doanh nghiệp taxi. Việc kinh doanh, nộp thuế của doanh nghiệp taxi truyền thống được báo chí phản ánh nhiều kể từ khi có sự cạnh tranh với Taxi sử dụng các ứng dụng công nghệ (Grab và Uber).
Theo quy định tại Thông tư số 63/2014/TT-BGTVT ngày 7/11/2014 của Bộ Giao thông vận tải: Hoạt động kinh doanh Taxi là ngành nghề kinh doanh có điều kiện “Tổ chức doanh nghiệp mới được phép kinh doanh” nên việc khai thuế là trách nhiệm của doanh nghiệp vận tải taxi trong khi thực tế chủ yếu xe taxi là của các cá nhân góp vốn. Mặt khác, việc kiểm soát hoạt động kinh doanh taxi tương đối khó khăn do các đơn vị kinh doanh vận tải taxi có thể kê khai mức doanh thu thấp, chưa sát với doanh thu thực tế, thuế GTGT phát sinh phải nộp ít, số thuế GTGT được khấu trừ nhiều, số thuế TNDN phát sinh phải nộp ít, người tiêu dùng có thói quen không lấy hóa đơn khi sử dụng dịch vụ vận chuyển bằng xe taxi nên việc đối chiếu với kê khai của đơn vị kinh doanh vận tải là khó khăn.
- Biện pháp quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh taxi
Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 đã có quy định người nộp thuế (NNT) kê khai, nộp thuế theo nguyên tắc tự tính, tự khai và tự nộp. Ngoài số liệu do NNT tự khai, trường hợp khi cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra NNT nếu phát hiện hành vi khai sai, khai chưa đúng số thuế phải nộp thì tùy theo hành vi vi phạm, cơ quan thuế sẽ xử phạt vi phạm pháp luật về thuế đối với NNT đồng thời truy thu số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước theo quy định. Ngoài ra, trường hợp cơ quan thuế kiểm tra thuế, thanh tra thuế mà phát hiện hành vi trốn thuế có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan thuế chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền để điều tra theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Căn cứ theo quy định về quản lý thuế, để đảm bảo quản lý chặt chẽ đối với hoạt động kinh doanh vận tải taxi trong cả nước, đảm bảo công bằng giữa các phương tiện kinh doanh vận tải giữa các địa phương, tránh tình trạng kê khai nộp thuế tại các địa phương do có sự khác nhau trong công tác quản lý nhà nước, tăng cường huy động nguồn lực từ kinh doanh vận tải vào ngân sách nhà nước, tránh thất thu ngân sách nhà nước, căn cứ tình hình thực tế để có cơ sở đánh giá về chính sách thuế áp dụng, chính sách về hóa đơn, việc nộp ngân sách nhà nước để có giải pháp đề xuất sửa đổi bổ sung chính sách thuế, quản lý thuế đối với hoạt động vận tải taxi phù hợp với việc phát triển công nghệ 4.0. Để thực hiện được những giải pháp nêu trên thì cần thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có liên quan đến hoạt động kinh doanh vận tải, đặc biệt là cơ quan giao thông vận tải. Để có cơ sở xác định chính xác doanh thu của hoạt động kinh doanh vận tải taxi của các doanh nghiệp, hợp tác xã thì cần thiết phải có dữ liệu từ thiết bị in hóa đơn kết nối với đồng hồ tính tiền trên xe, thiết bị giám sát hành trình của xe taxi. Nội dung quy định này đã được Bộ Tài chính đưa vào dự thảo Nghị định quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ (thay thế Nghị định số 51/2010/NĐ-CP và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP) theo hướng: “Các Bộ quản lý chuyên ngành có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính để chia sẻ, kết nối thông tin, dữ liệu liên quan cần thiết trong lĩnh vực quản lý của ngành với Bộ Tài chính phục vụ việc xây dựng cơ sở dữ liệu hóa đơn điện tử”. Đồng thời, tại dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 86/2014/NĐ-CP về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô thì cần thiết bổ sung nội dung cung cấp thông tin từ thiết bị in hóa đơn kết nối với đồng hồ tính tiền trên xe, thiết bị giám sát hành trình của xe taxi cho cơ quan thuế…
- Về đề nghị cung cấp số liệu thực hiện nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp tại các Cục thuế
Các đề nghị cung cấp số liệu của Quý báo có phạm vi rộng, liên quan đến hoạt động của các hãng taxi; trên thực tế các đơn vị kinh doanh taxi theo những mô hình khác nhau nên việc so sánh kết quả hoạt động kinh doanh, việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các đơn vị là không tương đồng, không đáp ứng được mục tiêu phân tích.
Đồng thời, theo quy định tại Điều 73 Luật quản lý thuế về Bảo mật thông tin của người nộp thuế thì việc cung cấp các số liệu theo đề xuất của Quý Báo là chưa đảm bảo cơ sở pháp lý.
Công văn số 2776/TCT-CS của Tổng cục Thuế ngày 13/07/2018 v/v thuế GTGT
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ngọc Hiển được Nhà nước giao rừng ngập mặn để hoạt động sản xuất kinh doanh. Trường hợp, Công ty ký hợp đồng với các cá nhân để giao lại rừng ngập mặn cho các cá nhân tự khai thác thủy sản phù hợp theo quy định của pháp luật và thu tiền khoán sản phẩm theo diện tích rừng được giao thì thuộc đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất 10%.
Công văn số 2775/TCT-CS của Tổng cục Thuế ngày 13/07/2018 v/v xử phạt về hoá đơn
Trường hợp người bán sử dụng hóa đơn trong thời gian cơ quan thuế có Quyết định về việc áp dụng cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng hoặc Thông báo về việc người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký còn hiệu lực là hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp; cơ quan thuế thực hiện xử lý như sau:
– Xử phạt đối với người mua: Người mua hàng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, không được kê khai khấu trừ thuế GTGT và tính chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
– Xử phạt đối với người bán: Trường hợp người bán sử dụng nhiều số hóa đơn bất hợp pháp thì khi bị phát hiện người bán bị xử phạt về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp và có tình tiết tăng nặng do vi phạm trong thời gian đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính của cơ quan thuế.
Công văn số 2773/TCT-KK của Tổng cục Thuế ngày 13/07/2018 v/v nộp thuế GTGT vãng lai ngoại tỉnh
- Trường hợp Công ty Cổ phần Đầu tư Đèo Cả (Chủ đầu tư) ký hợp đồng thi công xây dựng công trình số 2605/2015/HĐTC XL-ĐC Xây dựng Cầu Suối Dừa đoạn KM 1370+402 thuộc địa bàn huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước với Công ty CP Núi Hồng (trụ sở chính tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) thì:
– Công ty Cổ phần Đầu tư Đèo Cả (Chủ đầu tư) khi làm thủ tục thanh toán công trình xây dựng Cầu Suối Dừa với Kho bạc nhà nước tỉnh Phú Yên nơi Công ty cổ phần đầu tư Đèo Cả (Chủ đầu tư) mở tài khoản giao dịch có trách nhiệm lập chứng từ thanh toán phải kê khai chi tiết các thông tin về tên, mã số thuế của đơn vị nhận thầu là Công ty CP Núi Hồng; cơ quan thuế quản lý nơi phát sinh công trình xây dựng và Kho bạc Nhà nước hạch toán thu để Kho bạc nhà nước tỉnh Phú Yên thực hiện khấu trừ thuế GTGT và hạch toán thu ngân sách nhà nước. Theo quy định, công trình xây dựng phát sinh tại địa phương cấp tỉnh nào thì số thuế GTGT khấu trừ sẽ được hạch toán vào ngân sách địa phương cấp tỉnh đó.
Căn cứ vào hồ sơ chứng từ thanh toán đã được Kho bạc nhà nước tỉnh Phú Yên phê duyệt cho công trình xây dựng Cầu Suối Dừa thuộc địa bàn huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, Kho bạc Nhà nước tỉnh Phú Yên nơi Công ty cổ phần đầu tư Đèo Cả (Chủ đầu tư) mở tài khoản giao dịch thực hiện khấu trừ số thuế GTGT theo tỷ lệ 2% trên số tiền thanh toán từ nguồn vốn ngân sách nhà nước cho Công trình xây dựng Cầu Suối Dừa để nộp vào ngân sách nhà nước, số thuế GTGT khấu trừ này sẽ được hạch toán vào ngân sách địa phương tỉnh Khánh Hòa.
- Trường hợp tính đến ngày 26/12/2017, Kho bạc Nhà nước tỉnh Phú Yên đã hạch toán ghi thu ngân sách nhà nước tỉnh Phú Yên đối với số tiền thuế GTGT khấu trừ trên số tiền thanh toán từ nguồn vốn ngân sách nhà nước cho công trình Cầu Suối Dừa cho người nộp thuế là Công ty CP Núi Hồng. Đồng thời, Công ty CP Núi Hồng cũng đã nộp thuế GTGT vãng lai công trình Cầu Suối Dừa tại Chi cục Thuế huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa thì Tổng cục Thuế đề nghị:
Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa chủ trì, phối hợp với Kho bạc nhà nước tỉnh Khánh Hòa, Công ty cổ phần đầu tư Đèo Cả, Công ty cổ phần Núi Hồng rà soát, xác định đúng nghĩa vụ nộp thuế GTGT vãng lai tại tỉnh Khánh Hòa đối với hoạt động xây dựng công trình Cầu Suối Dừa của Công ty CP Núi Hồng; số tiền thuế GTGT vãng lai công trình Cầu Suối Dừa mà Công ty CP Núi Hồng đã nộp vào ngân sách tỉnh Khánh Hòa; số tiền thuế GTGT vãng lai công trình Cầu Suối Dừa mà Công ty CP Núi Hồng còn phải nộp vào ngân sách tỉnh Khánh Hòa để hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế vãng lai công trình Cầu Suối Dừa tại tỉnh Khánh Hòa theo quy định.
– Đối với số tiền thuế GTGT vãng lai công trình Cầu Suối Dừa mà Công ty CP Núi Hồng còn phải nộp vào ngân sách tỉnh Khánh Hòa:
Trên cơ sở các nghĩa vụ thuế nêu trên đối với hoạt động xây dựng vãng lai công trình Cầu Suối Dừa của Công ty CP Núi Hồng, Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa có văn bản đề nghị Cục Thuế tỉnh Phú Yên chủ trì, phối hợp với Kho bạc nhà nước tỉnh Phú Yên thực hiện điều chỉnh số thuế GTGT khấu trừ của công trình Cầu Suối Dừa mà Kho bạc nhà nước tỉnh Phú Yên đã ghi thu sai cho ngân sách tỉnh Phú Yên sang ghi thu ngân sách tỉnh Khánh Hòa. Số tiền thuế cần điều chỉnh từ Kho bạc nhà nước tỉnh Phú Yên về Kho bạc Nhà nước tỉnh Khánh Hòa bằng số tiền thuế GTGT vãng lai công trình Cầu Suối Dừa mà Công ty CP Núi Hồng còn phải nộp vào ngân sách tỉnh Khánh Hòa để hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế vãng lai công trình Cầu Suối Dừa tại tỉnh Khánh Hòa theo quy định.
– Đối với số thuế Kho bạc nhà nước tỉnh Phú Yên ghi thu sai ngân sách tỉnh Phú Yên xác định là số thuế nộp thừa do Công ty CP Núi Hồng đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế vãng lai công trình Cầu Suối Dừa tại tỉnh Khánh Hòa:
Công ty CP Núi Hồng có quyền xử lý số tiền thuế nộp thừa theo quy định tại Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trường hợp Công ty CP Núi Hồng có đề nghị hoàn số thuế nộp thừa thì Cục Thuế tỉnh Phú Yên căn cứ vào các chứng từ thanh toán, chứng từ nộp thuế vãng lai cho Công trình xây dựng Cầu Suối Dừa, văn bản xác nhận của Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa về nghĩa vụ thuế GTGT vãng lai của công trình Cầu Suối Dừa để giải quyết hồ sơ đề nghị hoàn số thuế nộp thừa nêu trên của Công ty CP Núi Hồng theo hướng dẫn tại điểm c khoản 3 Điều 58 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính.
Công văn số 2749/TCT-KK của Tổng cục Thuế ngày 12/07/2018 v/v khấu trừ thuế GTGT đối với các công trình sử dụng nguồn vốn NSNN
Đối với các công trình, hạng mục công trình xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN, các khoản thanh toán từ nguồn ngân sách nhà nước cho các công trình xây dựng cơ bản của các dự án sử dụng vốn ODA mà chủ đầu tư ký hợp đồng với nhà thầu chính, sau đó nhà thầu chính giao lại một phần công việc cho các nhà thầu phụ theo hợp đồng giữa nhà thầu chính và nhà thầu phụ thì:
– Trường hợp các bên thỏa thuận chủ đầu tư thanh toán trực tiếp cho nhà thầu chính và nhà thầu phụ, chủ đầu tư khi làm thủ tục thanh toán với KBNN có trách nhiệm kê khai chi tiết tên, mã số thuế, cơ quan thuế quản lý của đơn vị nhận thầu (bao gồm cả nhà thầu chính và nhà thầu phụ) để KBNN thực hiện khấu trừ thuế GTGT và cấp chứng từ thanh toán cho các nhà thầu.
– Trường hợp chủ đầu tư thanh toán trực tiếp cho nhà thầu chính, sau đó nhà thầu chính thanh toán cho nhà thầu phụ thì chủ đầu tư có trách nhiệm kê khai chi tiết tên, mã số thuế, cơ quan thuế quản lý của đơn vị nhận thầu (là nhà thầu chính) khi làm thủ tục thanh toán với KBNN để KBNN thực hiện khấu trừ thuế GTGT và cấp chứng từ thanh toán cho nhà thầu chính.
Như vậy, đề xuất của Cục Thuế TP. Hà Nội đề nghị KBNN phối hợp chỉ đạo các KBNN tại các địa phương khi khấu trừ số thuế GTGT đối với các công trình sử dụng nguồn vốn NSNN thực hiện yêu cầu các chủ đầu tư hoặc nhà thầu chính kê khai chi tiết tên, mã số thuế, cơ quan thuế quản lý của đơn vị nhận thầu (bao gồm cả nhà thầu chính và các nhà thầu phụ, kể cả trường hợp chủ đầu tư không thanh toán trực tiếp cho nhà thầu phụ) để cơ quan KBNN thực hiện khấu trừ tương ứng hiện nay chưa có cơ sở để thực hiện.
Tổng cục Thuế sẽ tổng hợp vướng mắc của Cục Thuế TP. Hà Nội để báo cáo Bộ Tài chính khi sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật liên quan cho phù hợp với tình hình quản lý thuế thực tế tại địa phương.
Công văn số 2710/TCT-PC của Tổng cục Thuế ngày 09/07/2018 v/v phạt chậm nộp thuế TNCN
Từ 01/7/2013 đến trước ngày 01/01/2015, tiền chậm nộp tính theo mức 0,07%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với số ngày chậm nộp vượt quá thời hạn chín mươi ngày; Từ ngày 01/01/2015 đến trước ngày 01/7/2016, tiền chậm nộp theo mức 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp; Từ ngày 01/7/2016, tiền chậm nộp theo mức bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp.
Hướng dẫn điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH
Thông tư 05/2018/TT-BLĐTBXH hướng dẫn điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hàng tháng đối với đối tượng quy định tại Khoản 1, 2, 3 và Khoản 8 Điều 1 Nghị định 88/2018/NĐ-CP.
Theo đó, hướng dẫn cách tăng lương hưu, trợ cấp BHXH từ 01/7/2018 với 04 nhóm đối tượng sau đây:
– Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức, NLĐ, quân nhân, CAND và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hàng tháng.
– Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, Nghị định 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 và Nghị định 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 đang hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng.
– Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng; người đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định 91/2000/QĐ-TTg ngày 04/8/2000, Quyết định 613/QĐ-TTg ngày 06/5/2010; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng.
– Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng.
Mức hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH của 04 nhóm đối tượng trên từ tháng 7/2018 = Mức hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH từ tháng 6/2018 x 1,0692.
Thông tư 05 có hiệu lực từ ngày 15/8/2018.
05 thủ tục mới về BHXH, BHYT theo Quyết định 595/QĐ-BHXH
BHXH Việt Nam đã ban hành Quyết định 772/QĐ-BHXH công bố TTHC thay thế trong lĩnh vực thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN; cấp sổ BHXH, thẻ BHYT.
Theo đó, công bố 05 TTHC mới sau đây để đáp ứng những thay đổi về chính sách được quy định tại Quyết định 595/QĐ-BHXH:
– Thủ tục Đăng ký, điều chỉnh đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN, BHTNLĐ- BNN; cấp sổ BHXH, thẻ BHYT.
Thủ tục này sẽ thay thế cho 04 thủ tục cũ:
+ Đơn vị tham gia lần đầu, đơn vị di chuyển từ địa bàn tỉnh, thành phố khác đến
+ Điều chỉnh đóng BHXH, BHYT, BHTN hằng tháng
+ Truy thu BHXH, BHYT, BHTN
+ Người lao động có thời hạn ở nước ngoài tự đăng ký đóng BHXH bắt buộc.
– Thủ tục Đăng ký, đăng ký lại, điều chỉnh đóng BHXH tự nguyện; cấp sổ BHXH – thay thế cho thủ tục Đăng ký, đăng ký lại, điều chỉnh đóng BHXH tự nguyện.
– Thủ tục Đăng ký đóng, cấp thẻ BHYT đối với người chỉ tham gia BHYT.
– Thủ tục Hoàn trả tiền đã đóng đối với người tham gia BHXH tự nguyện, người có từ 2 sổ BHXH trở lên có thời gian đóng BHXH, BHTN trùng nhau, người tham gia BHYT theo hộ gia đình , người tham gia BHYT được ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần mức đóng.
– Thủ tục Cấp lại, đổi, điều chỉnh thông tin trên sổ BHXH, thẻ BHYT.
Xem nội dung cụ thể của từng thủ tục tại Quyết định 772/QĐ-BHXH ngày 15/6/2018.
Chi nhánh doanh nghiệp được phép đóng BHXH tại công ty mẹ
Đây là nội dung mới đáng chú ý tại Quyết định 888/QĐ-BHXH sửa đổi Quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN kèm theo Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017.
Theo đó, Quyết định mới cho phép chi nhánh của doanh nghiệp được lựa chọn việc đóng BHXH tại địa bàn nơi có chi nhánh hoặc đóng tại Công ty mẹ.
Quy định cũ ban hành tại Quyết định 595/QĐ-BHXH chỉ cho phép chi nhánh doanh nghiệp hoạt động tại địa bàn nào thì đóng BHXH tại địa bàn đó.
Ngoài ra, Quyết định 888 còn sửa đổi, bổ sung một số nội dung các Phụ lục và biểu mẫu, gồm:
– Phụ lục 01: Các loại giấy tờ làm căn cứ để cấp, ghi, điều chỉnh Sổ BHXH;
– Phụ lục 03: Sửa đổi, bổ sung các loại giấy tờ làm căn cứ để cấp lại, ghi, điều chỉnh thẻ BHYT;
– Mẫu TK1-TS: Tờ khai tham gia, điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (có hướng dẫn kèm theo).
Quyết định 888/QĐ-BHXH có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018.
Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam áp dụng từ 20/8/2018
Thủ tướng ban hành Quyết định 27/2018/QĐ-TTg về Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, cụ thể được chia thành 05 cấp:
– Ngành cấp 1 gồm 21 ngành được mã hóa theo bảng chữ cái lần lượt từ A đến U;
– Ngành cấp 2 gồm 88 ngành; mỗi ngành được mã hóa bằng hai số theo ngành cấp 1 tương ứng;
– Ngành cấp 3 gồm 242 ngành; mỗi ngành được mã hóa bằng ba số theo ngành cấp 2 tương ứng;
– Ngành cấp 4 gồm 486 ngành; mỗi ngành được mã hóa bằng bốn số theo ngành cấp 3 tương ứng;
– Ngành cấp 5 gồm 734 ngành; mỗi ngành được mã hóa bằng năm số theo ngành cấp 4 tương ứng.
Như vậy, so với quy định hiện hành, quy định này đã tăng số lượng ngành cấp 4 lên 49 ngành, ngành cấp 5 tăng lên 92 ngành.
Quyết định 27/2018/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 20/8/2018.
Đơn giản hóa điều kiện kinh doanh mua, bán vàng trang sức
Đây là nội dung nổi bật tại Quyết định 1417/QĐ-NHNN phê duyệt phương án đơn giản hóa điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã phê duyệt phương án bãi bỏ điều kiện hoạt động kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ sau:
– Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
– Có địa điểm, cơ sở vật chất và các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ.
Đồng thời, bãi bỏ 02 điều kiện hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ sau:
– Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
– Có địa điểm, cơ sở vật chất và các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.
Quyết định 1417/QĐ-NHNN có hiệu lực từ ngày 09/7/2017.
Cấm ngân hàng mua trái phiếu doanh nghiệp có mục đích cơ cấu nợ
Đây là nội dung mới tại Thông tư 15/2018/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 22/2016/TT-NHNN quy định việc tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu doanh nghiệp.
Theo đó, quy định các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong đó có mục đích để cơ cấu lại các khoản nợ của doanh nghiệp.
Ngoài ra, thông tư cũng bổ sung một số nguyên tắc khi TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu doanh nghiệp như sau:
– Ban hành quy định kiểm soát nội bộ hoạt động mua trái phiếu doanh nghiệp, đặc biệt với những trái phiếu phát hành thực hiện các dự án thuộc các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
– Quy định cụ thể về các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro và chính sách tín dụng, đầu tư vào các lĩnh vực này.
Thông tư 15/2018/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 02/8/2018.
Tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn dùng để cho vay của TCTD năm 2018
Thông tư 16/2018/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được ban hành ngày 31/7/2018.
Theo đó, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải tuân thủ tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn theo lộ trình sau:
– Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2018:
+ Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 45%;
+ Tổ chức tín dụng phi ngân hàng: 90%.
– Từ ngày 01 tháng 01 năm 2019:
+ Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 40%;
+ Tổ chức tín dụng phi ngân hàng: 90%.
Ngoài ra, Thông tư cũng đưa ra quy định về cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi.
Xem chi tiết tại Thông tư 16/2018/TT-NHNN (có hiệu lực từ ngày 31/7/2018).
Danh mục mới về khoáng sản làm vật liệu xây dựng xuất khẩu
Bộ Xây dựng ban hành Thông tư 05/2018/TT-BXD về hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2018.
Theo đó, từ ngày 15/8, danh mục các khoảng sản dùng để làm vật liệu xây dựng xuất khẩu thực hiện theo Danh mục kèm theo Thông tư 05; đơn cử như:
– Đá xây dựng có nguồn gốc từ cuội, sỏi, đá dùng làm cấp phối bê tông, rải đường giao thông: Đã được gia công đập, nghiền, sàng có kích thước cỡ hạt ≤ 60 mm
– Đá khối (block) có nguồn gốc từ đá hoa trắng được khai thác, cưa cắt thành sản phẩm có các mặt phẳng dạng khối: Thể tích ≥ 0,5 m3…

