Trong Bản tin tháng 08 năm 2019, chúng tôi xin giới thiệu đến quý khách hàng các chính sách mới liên quan đến thuế, lao động và các quy định khác có hiệu lực thi hành trong tháng 08/2019 và tháng 09/2019 bao gồm:
Thuế – Hóa đơn – Chứng từ
- Thông tư 48/2019/TT – BTC ngày 08/08/2019 v/v Hướng dẫn việc trích lập và xử lý các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, công trình xây dựng tại doanh nghiệp;
- Công văn số 2778/TCT-CS của Tổng cục Thuế ngày 12/07/2019 v/v hoá đơn, thuế GTGT;
- Công văn số 2813/TCT-DNNCN của Tổng cục Thuế ngày 16/07/2019 v/v hồ sơ hoàn thuế TNCN của tổ chức trả thu nhập;
- Công văn số 2875/TCT-DNNCN của Tổng cục Thuế ngày 22/07/2019 v/v hướng dẫn về thuế TNCN;
- Công văn số 63388/CT-TTHT ngày 9/8/2019 V/v thuế GTGT;
- Công văn số 64071/CT -TTHT ngày 13/8/2019 V/v sử dụng hóa đơn điện tử;
- Công văn số 64601/CT-TTHT ngày 15/8/2019 V/v thuế nhà thầu đối với hợp đồng gia công phần mềm.
Quy định khác
- Thông tư 06/2019/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam;
- Nghị định 55/2019/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thông tư 48/2019/TT – BTC v/v Hướng dẫn việc trích lập và xử lý các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, công trình xây dựng tại doanh nghiệp:
Điểm mới trong thông tư này so với thông tư 228/2009/TT-BTC và thông tư 89/2013/TT-BTC:
- Được áp dụng để xác định khoản dự phòng phải thu khó đòi đưa được vào chi phí hợp lý khi quyết toán thuế TNDN;
- Thời điểm trích lập dự phòng là thời điểm lập báo cáo tài chính năm
- Trích lập dự phòng phải thu khó đòi đối với đối tượng có phát sinh cả nợ phải thu và phải trả
- Quy định mức trích lập dự phòng phải thu khó đòi đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin, truyền hình trả sau và khoản nợ phải thu do bán lẻ hàng hóa theo hình thức trả chậm.
- Doanh nghiệp không được trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản đầu tư ra nước ngoài
Cụ thể:
Căn cứ khoản 1a Điều 6 Thông tư 48/2019/TT – BTC, điều kiện trích lập dự phòng phải thu khó đòi:
Phải có chứng từ gốc chứng minh số tiền đối tượng nợ chưa trả, bao gồm:
- Hợp đồng kinh tế
- Khế ước nợ vay, cam kết nợ
- Biên bản thanh lý hợp đồng (nếu có)
- Đối chiếu công nợ, trường hợp không có đối chiếu công nợ thì phải có văn bản đề nghị đối chiếu xác nhận công nợ hoặc văn bản đòi nợ do doanh nghiệp đã gửi (có dấu bưu điện hoặc xác nhận của đơn vị chuyển phát);
- Bảng kê công nợ
- Các chứng từ khác có liên quan
Thời điểm trích lập và hoàn nhập các khoản dự phòng là thời điểm lập báo cáo tài chính năm thay vì là thời điểm cuối kỳ kế toán năm hoặc ngày cuối cùng của năm tài chính theo Thông tư 228/2009/TT-BTC.
Căn cứ điểm g, khoản 3, Điều 6 Thông tư 48/2019/TT – BTC:
“Khi trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi của một đối tượng nợ có phát sinh cả nợ phải thu và nợ phải trả, căn cứ biên bản đối chiếu công nợ giữa hai bên để doanh nghiệp trích lập dự phòng trên cơ sở số còn phải thu sau khi đã bù trừ khoản nợ phải trả của đối tượng này.
Mức trích lập dự phòng của từng khoản nợ quá hạn được tính theo tỷ lệ (%) của khoản nợ quá hạn phải trích lập theo thời hạn quy định nhân (x) với tổng nợ còn phải thu sau khi đã bù trừ khoản nợ phải trả”.
Ví dụ: Công ty A có phát sinh các nghiệp vụ bán hàng cho Công ty B theo
từng hợp đồng và đã quá hạn thanh toán như sau:
+ Bán lô hàng theo hợp đồng 01 cho Công ty B, giá trị họp đồng là 5 triệu đồng, Công ty B chưa trả nợ, quá hạn 7 tháng.
+ Bán lô hàng theo hợp đồng 02 cho Công ty B, giá trị hợp đồng là 15 triệu đồng, Công ty B chưa trả nợ, quá hạn 13 tháng.
+ Bán lô hàng theo hợp đồng 03 cho Công ty B, giá trị họp đồng là 10 triệu đồng, Công ty B chưa trả nợ, quá hạn 25 tháng.
– Tổng nợ phải thu quá hạn của Công ty B: 30 triệu đồng.
– Đồng thời, Công ty A có mua hàng của Công ty B, số tiền Công ty A phải trả cho Công ly B là: 10 triệu đồng.
– Như vậy, số còn phải thu sau khi đã bù trừ khoản nợ phải trả đối với Công ty B là: 20 triệu đồng.
– Mức trích lập dự phòng đối với nợ phải thu của lô hàng theo hợp đồng 01 là: 5/30 X 20 triệu đồng X 30% = 1 triệu đồng.
– Mức trích lập dự phòng đối với nợ phải thu của lô hàng theo họp đồng 02 là: 15/30 X 20 triệu đồng X 50% = 5 triệu đồng.
– Mức trích lập dự phòng đối với nợ phải thu của lô hàng theo hợp đồng 03 là: 10/30 X 20 triệu đồng X 70% = 4,67 triệu đồng
Căn cứ khoản 2b Điều 6 Thông tư 48/2019/TT – BTC:
“Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông và doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ hàng hóa, khoản nợ phải thu cước dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin, truyền hình trả sau và khoản nợ phải thu do bán lẻ hàng hóa theo hình thức trả chậm/trả góp của các đối tượng nợ là cá nhân đã quá hạn thanh toán mức trích lập dự phòng như sau:
- 30% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 3 tháng đến dưới 6 tháng.
- 50% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 6 tháng đến dưới 9 tháng.
- 70% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 9 tháng đến dưới 12 tháng.
- 100% giá trị đối với khoản nợ phải thu từ 12 tháng trở lên.”
Bên cạnh đó, Thông tư 48/2019/TT-BTC còn có một số nội dung bổ sung, sửa đổi và bãi bỏ nội dung của từng khoản dự phòng theo Thông tư 228/2009/TT-BTC, cụ thể:
+ Về trích lâp dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Thông tư 48/2019/TT-BTC không đề cập đến một trường hợp trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho như đã được trình bày trong thông tư 228/2009/TT-BTC:
“Trường hợp nguyên vật liệu có giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn so với giá gốc nhưng giá bán sản phẩm dịch vụ được sản xuất từ nguyên vật liệu này không bị giảm giá thì không được trích lập dự phòng giảm giá nguyên vật liệu tồn kho đó”.
Đối tượng trích lập dự phòng bao gồm hàng mua đang đi đường, hàng gửi đi bán, hàng hóa kho bảo thuế nhưng không bao gồm sản phẩm dở dang, chi phí dịch vụ dở dang như hướng dẫn tại Thông tư 228/2009/TT-BTC.
+ Về trích lâp dự phòng giảm tổn thất các khoản đầu tư
Đối với dự phòng các khoản đầu tư ngắn hạn, giá chứng khoán thực tế trên thị trường được xác định theo giá đóng cửa tại ngày gần nhất có giao dịch tính đến ngày lập báo cáo tài chính năm, không phân biệt chứng khoán niêm yết trên sàn HNX hay sàn HOSE đã được trình bày ở thông tư 228/2009/TT-BTC.
Đối với cổ phiếu đã đăng ký giao dịch trên thị trường giao dịch của các công ty đại chúng chưa niêm yết và các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cố phần hóa dưới hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng (Upcom) thì giá chứng khoán thực tế trên thị trường được xác định là giá tham chiếu bình quân trong 30 ngày giao dịch liền kề gần nhất trước thời điểm lập báo cáo tài chính năm do Sở Giao dịch chứng khoán công bố. Việc xác định giá trị này được quy định cụ thể hơn so với thông tư 228/2009/TT-BTC.
Trường hợp không có giao dịch nào trong vòng 30 ngày trước ngày lập dự phòng hoặc chứng khoán bị hủy niêm yết, bị đình chỉ giao dịch hoặc bị ngừng giao dịch trong khi cổ phiếu công ty đã được đăng ký trên thị trường chứng khoán niêm yết hoặc thị trường Upcom thì doanh nghiệp xác định mức trích dự phòng cho từng khoản đầu tư chứng khoán tương tự như khoản đầu tư khác.
Bổ sung hướng dẫn xác định giá thị trường đối với trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu chính phủ bảo lãnh và trái phiếu doanh nghiệp.
Trường hợp không có giao dịch trong vòng 10 ngày tính đến thời điểm lập báo cáo tài chính năm thì doanh nghiệp không thực hiện trích lập dự phòng đối với khoản đầu tư này.
Thông tư 48/2019/TT-BTC không đề cập đến đối tượng trích lập dự phòng là các khoản đầu tư vào tổ chức, doanh nghiệp mà đang có lỗ.
Trường hợp tổ chức kinh tế nhận vốn góp không lập báo cáo tài chính cùng thời điểm thì doanh nghiệp không được thực hiện trích lập dự phòng đối với khoản đầu tư này; ngoại trừ các trường hợp sau, doanh nghiệp được thực hiện trích lập dự phòng căn cứ theo báo cáo tài chính quý gần nhất của tổ chức kinh tế nhận vốn góp:
- Tổ chức kinh tế nhận vốn góp không lập báo cáo tài chính cùng thời điểm lập báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp góp vốn do đã ngừng hoạt động và đang chờ xử lý (giải thể, phá sản).
- Tổ chức kinh tế nhận vốn góp được phép lập báo cáo tài chính khác với thời điểm lập báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp góp vốn và đã có thông báo cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về kế toán.
+ Về dự phòng phải thu khó đòi
Bổ sung trích lập dự phòng đối với trường hợp quá hạn thanh toán nhưng đối tượng đang mắc bệnh hiểm nghèo (có xác nhận của bệnh viện) thì doanh nghiệp tự dự kiến mức tổn thất không thu hồi được (tối đa bằng giá trị khoản nợ đang theo dõi trên sổ kế toán) để trích lập dự phòng.
Bổ sung thêm các trường các khoản phải thu không có khả năng thu hồi:
- Khoản nợ phải thu đã được trích lập 100% dự phòng (đối với các doanh nghiệp bình thường) mà sau 03 năm tính từ thời điểm doanh nghiệp trích lập đủ 100% dự phòng mà vẫn chưa thu hồi được nợ.
- Khoản nợ phải thu đã được trích lập 100% dự phòng (đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông và doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ hàng hóa) mà sau 01 năm tính từ thời điểm doanh nghiệp trích lập đủ 100% dự phòng mà vẫn chưa thu hồi được nợ.
+ Về dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, công trình xây dựng
Ngoài sản phẩm, hàng hóa, công trình xây dựng, Thông tư 48/2019/TT-BTC bổ sung thêm đối tượng lập dự phòng là dịch vụ do doanh nghiệp thực hiện đã bán, đã cung cấp hoặc đã bàn giao cho người mua còn trong thời hạn bảo hành và doanh nghiệp vẫn có nghĩa vụ phải tiếp tục sửa chữa, hoàn thiện, bảo hành theo hợp đồng hoặc cam kết với khách hàng.
Tổng mức trích lập dự phòng bảo hành của các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, công trình xây dựng theo cam kết với khách hàng nhưng tối đa không quá 05% tổng doanh thu tiêu thụ trong năm đối với các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và không quá 05% trên giá trị hợp đồng đối với các công trình xây dựng.
Công văn số 2778/TCT-CS của Tổng cục Thuế ngày 12/07/2019 v/v hoá đơn, thuế GTGT
Trường hợp lập hóa đơn chưa giao cho người mua, nếu phát hiện hóa đơn lập sai, người bán gạch chéo các liên và lưu giữ số hóa đơn lập sai.
Trường hợp hóa đơn đã lập và giao cho người mua nhưng chưa giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc hóa đơn đã lập và giao cho người mua, người bán và người mua chưa kê khai thuế nếu phát hiện sai phải hủy bỏ, người bán và người mua lập biên bản thu hồi các liên của số hóa đơn đã lập sai. Biên bản thu hồi hóa đơn phải thể hiện được lý do thu hồi hóa đơn. Người bán gạch chéo các liên, lưu giữ số hóa đơn lập sai và lập lại hóa đơn mới theo quy định.
Trường hợp lập hóa đơn đã lập và giao cho người mua, đã giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ, người bán và người mua đã kê khai thuế, sau đó phát hiện sai sót thì người bán và người mua phải lập biên bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản ghi rõ sai sót, đồng thời người bán lập hóa đơn điều chỉnh sai sót. Hóa đơn ghi rõ điều chỉnh (tăng, giảm) số lượng hàng hóa, giá bán, thuế suất thuế giá trị gia tăng…, tiền thuế giá trị gia tăng cho hóa đơn số.., ký hiệu… Căn cứ vào hóa đơn điều chỉnh, người bán và người mua kê khai điều chỉnh doanh số mua, bán thuế đầu ra, đầu vào. Hóa đơn điều chỉnh không được ghi số âm (-).
Trường hợp người mua là đối tượng không có hóa đơn, khi trả lại hàng hóa, bên mua và bên bán phải lập biên bản ghi rõ loại hàng hóa, số lượng, giá trị hàng trả lại theo giá không có thuế GTGT, tiền thuế GTGT theo hóa đơn bán hàng (số ký hiệu, ngày, tháng của hóa đơn), lý do trả hàng và bên bán thu hồi hóa đơn đã lập.
Công văn số 2813/TCT-DNNCN của Tổng cục Thuế ngày 16/07/2019 v/v hồ sơ hoàn thuế TNCN của tổ chức trả thu nhập
Trường hợp tổ chức trả thu nhập đã thực hiện nộp thuế thu nhập cá nhân theo phương thức điện tử khi có nhu cầu hoàn thuế thu nhập cá nhân thì nộp hồ sơ đề nghị hoàn theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 23 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/08/2015 của Bộ Tài chính, trong đó bản chụp chứng từ, biên lai nộp thuế thu nhập cá nhân được thay bằng chứng từ giấy được chuyển đổi từ chứng từ điện tử theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 165/2018/NĐ-CP ngày 24/12/2018 của Chính phủ về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.
Công văn số 2875/TCT-DNNCN của Tổng cục Thuế ngày 22/07/2019 v/v hướng dẫn về thuế TNCN
Trường hợp khách hàng là cá nhân đạt doanh số được thưởng một chuyến du lịch (không phải bằng tiền) theo chương trình khuyến mại được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 81/2018/NĐ-CP ngày 22/05/2018 của Chính phủ thì được xác định là thu nhập từ quà tặng không thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu nên không chịu thuế TNCN.
Công văn số 63388/CT-TTHT ngày 9/8/2019 V/v thuế GTGT
Trường hợp cơ sở dạy học các cấp từ mầm non đến trung học phổ thông có thu tiền ăn, tiền vận chuyển đưa đón học sinh và các khoản thu khác dưới hình thức thu hộ, chi hộ thì tiền ăn, tiền vận chuyển đưa đón học sinh và các khoản thu hộ, chi hộ này cũng thuộc đối tượng không chịu thuế.
Khoản thu về ở nội trú học sinh, sinh viên, học viên; hoạt động đào tạo (bao gồm cả việc tổ chức thi và cấp chứng chỉ trong quy trình đào tạo) do cơ sở đào tạo cung cấp thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Trường hợp cơ sở đào tạo không trực tiếp tổ chức đào tạo mà chỉ tổ chức thi, cấp chứng chỉ trong quy trình đào tạo thì hoạt động tổ chức thi và cấp chứng chỉ thuộc đối tượng không chịu thuế. Trường hợp cung cấp dịch vụ thi và cấp chứng chỉ không thuộc quy trình đào tạo thì thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.
Trường hợp Công ty thực hiện hợp đồng về việc “Mua sắm tủ đĩa, bổ sung tài nguyên lưu trữ phục vụ ứng dụng của Ngân hàng Nhà nước” trong đó Công ty thực hiện cung cấp dịch vụ đào tạo vận hành, đào tạo quản trị mà không được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ đào tạo và việc dạy học dạy nghề không theo quy định của pháp luật thì chưa có cơ sở để xác định doanh thu từ hoạt động đào tạo vận hành, đào tạo quản trị thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định tại khoản 13 Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC.
Công văn số 64071/CT -TTHT ngày 13/8/2019 V/v sử dụng hóa đơn điện tử
Trường hợp Công ty có HĐĐT đã lập và gửi cho người mua, người bán và người mua chưa kê khai thuế GTGT nếu phát hiện sai thì không thực hiện lập hóa đơn điều chỉnh. Công ty chỉ được hủy khi có sự đồng ý và xác nhận của người bán và người mua. Công ty (Người bán) thực hiện HĐĐT mới để gửi cho người mua, trên hóa đơn điện tử mới phải có dòng chữ “hóa đơn này thay thế hóa đơn số…, ký hiệu, gửi ngày tháng năm” theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/03/2011 của Bộ Tài Chính.Việc hủy HĐĐT có hiệu lực theo đúng thời hạn do các bên tham gia đã thỏa thuận. HĐĐT đã hủy phải được lưu trữ phục vụ việc tra cứu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trường hợp Công ty tổ chức mô hình bán lẻ hàng hóa tại 03 điểm kinh doanh với nhiều chi dẫn đến việc luân chuyển hóa đơn điện tử chuyển đổi ra giấy về trụ sở chính để ký và đóng dấu của người bán gặp khó khăn, nếu việc chuyển đổi HĐĐT đáp ứng các điều kiện theo quy định của Thông tư số 32/2011/TT-BTC và hệ thống HĐĐT cho phép kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi sang giấy và chỉ được chuyển đổi 01 lần thì trên HĐĐT chuyển đổi không nhất thiết phải có dấu của người bán. Các tiêu thức khác vẫn phải đảm bảo theo quy định. Công ty được ủy quyền cho cơ sở bán hàng ký trên HĐĐT chuyển đổi. Công ty phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc chuyển đổi HĐĐT sang hóa đơn giấy.
Công văn số 64601/CT-TTHT ngày 15/8/2019 V/v thuế nhà thầu đối với hợp đồng gia công phần mềm
Trường hợp Công ty ký hợp đồng thuê nhà thầu nước ngoài gia công phần mềm, sau đó đội ngũ nhân viên ở Việt Nam sẽ thực hiện việc tiếp tục đóng gói và bán sản phẩm cho các đối tác trong nước thì thu nhập của nhà thầu nước ngoài được hưởng từ phí gia công phần mềm thuộc đối tượng chịu thuế nhà thầu theo quy định tại Thông tư 103/2014/TT-BTC, cụ thể:
+ Thuế GTGT: Gia công phần mềm thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT
+ Thuế TNDN: Áp dụng tỷ lệ % thuế TNDN tính trên doanh thu là 5%
Trường hợp nhà thầu nước ngoài phát sinh thu nhập từ bản quyền thì phải áp dụng tỷ lệ % thuế TNDN tính trên doanh thu là 10%.
Quy định về góp vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam
Ngày 26/6/2019, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 06/2019/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
Theo đó, NĐT nước ngoài, NĐT Việt Nam trong doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam được thực hiện góp vốn đầu tư bằng ngoại tệ, đồng Việt Nam (VNĐ) theo mức vốn góp của nhà đầu tư được ghi nhận tại:
– Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư;
– Giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành (đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thành lập và hoạt động theo pháp luật chuyên ngành);
– Thông báo về việc đáp ứng điều kiện góp vốn, mua cổ phần, mua lại phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài;
– Hợp đồng PPP đã ký kết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tài liệu khác chứng minh việc góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài phù hợp với quy định của pháp luật.
Hiện hành, NĐT nước ngoài, NĐT Việt Nam trong DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện góp vốn đầu tư bằng ngoại tệ hoặc VNĐ theo mức vốn đầu tư ghi nhận tại Giấy chứng nhận đầu tư.
Thông tư 06/2019/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 06/9/2019.
DN siêu nhỏ được hỗ trợ 100% chi phí tư vấn pháp luật không quá 3 triệu đồng/năm
Đây là nội dung mới tại Nghị định 55/2019/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, có hiệu lực từ ngày 16/8/2019.
Theo đó, sau khi nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ chi phí tư vấn pháp luật, trường hợp được cơ quan có thẩm quyền đồng ý thì:
– Doanh nghiệp siêu nhỏ được hỗ trợ 100% chi phí, nhưng không quá 03 triệu đồng/năm;
– Doanh nghiệp nhỏ được hỗ trợ tối đa 30% chi phí, nhưng không quá 05 triệu đồng/năm;
– Doanh nghiệp vừa được hỗ trợ tối đa 10% chi phí, nhưng không quá 10 triệu đồng/năm…
Nghị định này cũng đề ra một số nguyên tắc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa theo thứ tự ưu tiên như sau:
– Doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ hơn nộp hồ sơ đáp ứng đủ điều kiện được hỗ trợ trước;
– Doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật;
– Doanh nghiệp nhỏ và vừa nộp hồ sơ đáp ứng đủ điều kiện hỗ trợ trước được hỗ trợ trước.
Công văn 786/TCT-KK được ban hành ngày 12/3/2019.

